Pages

Thursday, December 18, 2008

Bến lở bến bồi

Chú ấp úng tại đó nhưng tôi không bận tâm. Tôi hỏi cho có vậy thôi chớ cũng biết chú đứng đó nhìn cô Liêu. Nhà chú nuôi rất nhiều bò. ngày nào cũng vậy, trước khi vác cái bao đi cắt cỏ bắp cho bò ăn chú đều đội cái nón lên đầu đứng bên bờ mẫu này nhìn mút mắt về rẫy ớt của cô LiêuBa đi rồi tôi chạy ra hè nhà, nơi có đám rẫy của cô Liêu, tôi muốn nhìn thấy chuyến đò chở ba đi. Tới đầu rẫy tôi gặp chú Tại đang đứng xớ rớ. Chú giật mình bởi bước chân tôi, quay lại. Thấy tôi, chú nở một nụ cười gượng:

- Đi đâu mà gấp vậy nhỏ?

- Ba con mới đi. Tôi chỉ tay về hướng bến đò.

- Đi đâu?

- Đi Cà Mau. Đi đám ma bà dì. Ba hứa sẽ mua về một đôi chiếu Cà Mau.

- Chú...

Chú ấp úng tại đó nhưng tôi không bận tâm. Tôi hỏi cho có vậy thôi chớ cũng biết chú đứng đó nhìn cô Liêu. Nhà chú nuôi rất nhiều bò. ngày nào cũng vậy, trước khi vác cái bao đi cắt cỏ bắp cho bò ăn chú đều đội cái nón lên đầu đứng bên bờ mẫu này nhìn mút mắt về rẫy ớt của cô Liêu.

Người ta đồn ầm chú mê cô Liêu nhưng cô Liêu đã thương người khác mất rồi, người nào được cô thương thật may mắn. Chú Tại đi cưới vợ cách đây hai tháng. chú Lương tận cuối cồn đi hỏi cưới cô hồi năm ngoái cũng mới cưới vợ hôm kia. Nhưng chú Tại chưa quên được cô, ngày ngày vẫn len lén nhìn cô từ sau lưng, nhìn một chút rồi đi.

Hôm nay chắc cũng vậy. Tôi bỏ chú sau lưng chạy ra hướng rẫy. Cô Liêu đang vô chưn mấy cây cà tím trồng quanh rẫy ớt. Những lá cà tím xòe tròn phơn phớt lớp lông tơ, xòe che mất cả bàn tay nhỏ rám nắng của cô. Tôi dừng lại đứng bên cô, mắt hướng về phía bến phà. Nơi đó một chiếc phà cũ kỹ cục mịch đang lù lù tách bến. Chắc ba đi chuyến phà này, chắc chắn như thế, tôi hình như có nhìn thấy cái áo sơ mi màu kem của ba đang giũ phành phạch trong đám hành khách. Tôi nói như reo:

- Cô Liêu ơi, ba con đi chuyến phà này nè.

Cô Liêu hơi ngẩng đầu lên, nhìn theo hướng tay tôi hỏi “vậy hả” rất nhanh rồi cúi xuống những bụi cà, sắn chét bật lên những khối đất nhỏ xốp xộp vương vướng vài sợi rễ cỏ. Tôi chờ cô hỏi ba đi đâu để khoe với cô mai mốt ba về sẽ mua cho tôi đôi chiếu Cà Mau. Ba đã hứa vậy khi từ chối cho tôi đi theo “đường xa lắm, con muốn ba mua cho cái gì, khi về ba mua?”. Tôi không biết Cà Mau có gì nhưng một lần nghe má nói ước gì có đôi chiếu Cà Mau để nằm. Tôi nghĩ chắc là đôi chiếu ấy đẹp lắm, nhiều màu sắc và hoa lá, hay là nằm lên êm lắm hay là ngủ trên đó sẽ mơ thấy bà tiên, bà sẽ ban phép cho ba và má không gây gổ nhau nữa. Nhưng tôi biết má sẽ không bao giờ nói với ba ý muốn đó vì má và ba thường xuyên giận nhau. Tôi ôm cánh tay ba nũng nịu “Ba mua cho con đôi chiếu Cà Mau”. Ba nhìn tôi không giấu được ngạc nhiên, tôi lắc tay ba: “Nghe ba!”, ba cười: “Ừ, thiệt tình!”. Ba thương tôi nhất, ba nói thương cái miệng rộng giống ba của tôi. Ba rất ít tiền và cũng ít đi đâu, nhưng đi đâu cũng không bao giờ quên quà cho tôi, chỉ mình tôi.

Đợi hoài không thấy cô Liêu hỏi gì, mất hứng tôi ngồi xuống vuốt tay vào mặt nham nhám của lá cà. Không cần cô hỏi, tôi vẫn kể:

- Ba đi Cà Mau đám ma bà dì. Ba sẽ mua đôi chiếu Cà Mau. Chắc là gặp đôi chiếu má mừng lắm vì má thích mà. Con cũng thích nữa. Mà cô có thích không?

- Ừ thích, chắc đẹp lắm...

Thấy chưa? Cô Liêu cũng nói đẹp. Nhưng sao cô không nói gì thêm, tay xới liên tục chỉ một gốc cà, mớ đất đã bị cô vằm nhừ nát. Cô Liêu vốn ít nói vậy nhưng cô thương tôi lắm. Ngày nào đi rẫy về cô cũng hái cho tôi những trái thù lù chín, mỗi kỳ bán ớt cô mua cho tôi cây kẹp, cô nói thương cái miệng rộng của tôi “cái miệng gì đâu mà cười là thấy hết tấm lòng”. Những khi rảnh tôi hay chạy ra rẫy để nói chuyện cùng cô, nghe cô kể về những ngày xưa khi cồn Châu Ma còn hoang vắng, cỏ mọc huốt đầu người, đế sậy tràn lan, ông nội cô và ông cố tôi về đây lập nghiệp. Cô kể những ngày còn nhỏ hay cùng những người bạn ra bãi mò hến mò trai, hồi đó bến này chưa lở. Cô nhìn chăm chăm vào bến lở, ánh mắt cô hụt mất bên bờ vực thì thầm: “Có những kỷ niệm đẹp mà mình không thể quên”. Vậy cô có kỷ niệm nào với chú Tại không? “Không có”. Có chớ, những ngày chú đứng nhìn lưng cô. Cô cười: “Con nhỏ này”. Tôi không ngạc nhiên khi thấy chú Tại mê cô.

Tôi cũng như chú, thích nhìn cô. Thích cái dáng gòn gọn lưng áo bà ba bạc màu, bước chân nhẹ như bước chân mèo, mái tóc dài suôn mượt kẹp ngang sau gáy. cô hiền như những thửa đất trên cồn này, hiền nhất là đôi mắt, nhìn vào thấy cả vùng đất cồn hoang vu nào đó thật xa không tiếng động, chỉ có hương đất cồn thoang thoảng. Tôi cũng bắt chước cái nhìn của cô, để tóc dài thường hay túm mớ tóc mỏng manh lấy cái kẹp nhựa nhỏ xíu kẹp ngang, bắt chước cô từng động tác, từng câu nói.



Má không rầy không khen. Ngày ngày má chỉ chăm bẵm vào rẫy bắp, vào những bao bắp vừa thu hoạch sợ ướt sợ khô, ướt quá thì bắp hư mà khô quá thì nhẹ ký. Khi cân bắp cho thương lái xong má ngồi tỉ mẩn đếm từng tấm tiền, sợ bạn hàng đưa nhầm, sợ kẻ trộm vào nhà, sợ ba tôi lấy cắp tiêu xài hay cho ai đó. Má lo xa quá, cả đời ba chỉ có hai cái áo màu kem giống hệt nhau, ai không biết tưởng ba ở dơ độc một cái áo không tắm không giặt, ba không mua sắm gì thêm cho mình, không nghiện bất cứ chất kích thích nào, thỉnh thoảng ba có cần tiền cũng là để mua quà cho tôi, mà tôi thì không phải người lạ. Má có một mối lo gì đó.
Ba về, mối lo nổ đùng ra. Nguyên nhân không phải đến từ đôi chiếu dù nó không đẹp như tưởng tượng của tôi nhưng má tôi rất thích. Mọi chuyện bắt đầu từ chỗ ngoài món quà cho tôi, ba còn mua một xấp vải cho cô Liêu may áo bà ba. Má tôi bắt gặp ngay đúng lúc ba nhắn gởi vào tấm áo cái nhìn tha thiết. Ồn ào nhất trong cuộc cãi vã là tiếng chửi lạc giọng của má, từ miệng má từng tràng những từ ngữ ngứa ngáy lăng loàn dâm ô nhất được nhắm thẳng vào người đàn bà ba đang tơ tưởng. Má nói căm hờn những giọt nước mắt cô Liêu rơi khi nhìn ba gục đầu bên hiên nhà sau mỗi lần ba má gây nhau. Có những giọt nước mắt đó sao?

Từ sau ngày đó, khi nào buồn, khi nào ba không thân thiện với má, má ghim thẳng cái nhìn, ghim thẳng lời nguyền rủa qua nhà đối diện . Má không muốn gì cả, chỉ muốn cô Liêu lập tức biến mất trước mắt má.

Dường như đòn khủng bố có tác dụng. cô Liêu sang nhà tôi cười thật tươi: “Vài hôm nữa em lấy chồng mời anh chị qua dùng ly rượu nhạt, chúc em hạnh phúc trăm năm”. Cô lấy ai? Người thương cô bền bỉ và tốt như chú Tại đã có vợ rồi, chú Lương cũng thế. Cô Liêu ưng ngay một người đàn ông lạ nào đó ở cuối cồn, nghe nói ông ta hơi bị lảng tai, có lần còn co giật. Má tôi yên lòng. Nhưng chiều đó dông bão đổ xuống nhà tôi.

Tiếng gào thét đinh tai của má dội ầm giữa xóm cồn còn hơn cả âm thanh cuồng nộ của dông bão. Tôi tưởng má bị ba đánh nên hớt hải chạy qua. Má đang nắm tóc cô Liêu, ba đang gỡ từng ngón tay quếu chặt của má.

- Đồ ngựa, giựt chồng tao. Ngựa nè. Ngựa nè.

Sau mỗi từ nè má giật ngang mái tóc cô Liêu, vả bốp vào mặt cô. Mặt cô đỏ nhừ, mắt cũng đỏ, nước mắt chảy. Cái áo bà ba bạc màu trên người cô nhăn nhúm lệch lạc. Mái tóc dài rũ xuống rối tơi bời. Cô trợn mắt nhìn ba. Ba né cái nhìn của cô, gào to hơn má:

- Bà muốn chửi, muốn đánh, muốn giết nhắm ngay tôi nè. Tại tôi, tôi là đồ dã thú chớ không phải tại người ta.

- Ông hay quá hé. Tôi bắt được tại trận còn vênh mặt bênh vực nó. Được... được... Má nghiến ngầm kéo dài từng tiếng nói, nhào tới cây chét làm cỏ cô vắt bên vách nhà lao đến bổ thẳng vào cô Liêu. Ba chặn lại bằng chính người ba. Máu đỏ tràn ra đầy mặt ba, chảy ròng xuống ngực áo, nhểu xuống nền ván. Má hoảng loạn dừng tay. Tôi òa khóc.

Ba tôi không chết, chỉ bị một vết thương lớn ở trán và rời khỏi nhà, rời khỏi cồn từ sau ngày đó, không biết vết thương của ba đã lành lặn chưa. Khi mọi chuyện dần phai, tôi thường xuyên nhận được những món tiền ba gửi về với những lời nhắn “Con ráng học!”. Số tiền ba gửi hằng tháng không nhiều lắm, giúp má con tôi sống qua ngày khi rẫy bắp nhà tôi teo dần do bị con sông Tiền ngoạm từng miếng lớn. Và món tiền níu kéo má lây lất với hy vọng ba còn nghĩ tới má con tôi, ba sẽ trở về.

Đám cưới cô Liêu không thành, không phải vì chuyện lùm xùm với ba (ông ta vốn lãng tai mà). Khi ngày cưới gần kề, ông ta đi tắm sông và bị co giật đến chết đuối. Cô Liêu vẫn ra rẫy nhà mình trồng ớt, trồng cà, bước những bước nhẹ như bước chân mèo.

***

Tôi đi tìm bãi bồi lại chạm phải một người đang ngồi thu lu bên bến nước, gió bạt ngang cái áo màu kem sờn rách mỏng manh, lật run rẩy những sợi tóc chớm phai màu. Tôi không biết khi đứng bên cồn nhìn thấy bóng trắng bên này là cái áo hay mái tóc.

Ba tôi khóc, không thấy nước mắt nhưng cái miệng rộng của ba mếu méo xệch. “Ba có lỗi với con, ba không dám trở về xóm cồn dù rất nhớ con”. Tôi hiểu, nếu là tôi, sau sự việc ấy tôi cũng sẽ lặn sâu vào nơi nào đó của dòng sông cuộc đời để không còn nghe ai nhắc đến tên mình.

Rồi ba kể. Ba và cô ấy thân nhau từ khi cô mới hơn năm tuổi. Ba không ngờ cô thương ba. Sau những trục trặc với má, ba rất buồn và buồn hơn khi thấy cô ấy không chịu lấy chồng. Những trận ghen của má đã đẩy cô đến một người đàn ông dị tật. Ba không nỡ nhìn thấy cô ấy cam khổ cả đời nên rủ cô đi. Cô ấy lắc đầu. Ba làm liều nghĩ rằng sẽ cưỡng bức đặt vào tay cô ấy một gia đình hạnh phúc. Nhưng sau chuyện đó cô ấy vẫn không đi. Cô nói, thương ba nhưng cô không thể để vì cô mà ba bỏ gia đình. Cô muốn chứng minh cho tôi thấy cô không phải là người gieo dông gió vào gia đình tôi? Ba tôi thất bại trong tất cả đã mải miết đi. Nhưng ba không thể nào quên được cái lưng áo bạc màu của cô Liêu và không yên tâm cuộc sống của tôi khi rẫy cồn lở từng mảng lớn. Ba quay về nơi này ngày ngày nhìn qua bến lở của cồn, nơi đó có tôi, có cô Liêu trong hai ngôi nhà đối diện...

- Cô có biết ba ở đây không?

- Có khi biết, có khi không,... Hồi đó cô ấy nói thương bến lở nhưng thích bãi bồi. Nhìn bãi bồi nhìn thấy cả tương lai rộng mở. Ba dành tiền mua bãi đất này định đưa cô ấy về đây sống. Nói hết câu đó ba ho khù khụ. Tôi nhìn nơi cổ họng ba, trái cấm đàn ông nhô ra nhọn liễu có cảm giác nó có thể rọc thủng làn da mỏng nhăn nheo của ba rồi lòi ra ngoài đốt xương trắng hếu, vầng trán nhiều nếp nhăn đẩy đùn cái sẹo lồi thêm to như con sâu vắt ngang giữa trán. Tôi nhìn quanh căn chòi, thấy những hũ chao rỗng nằm đủ kiểu, ám đầy bụi chỏng chơ với mớ củi điên điển ở góc chòi. Trên cái giàn nhỏ bằng tre, mấy đọt rau muống nằm vắt vẻo, héo queo...

Tôi đi tìm thuốc trị bệnh mất ngủ cho má và ghé lại nơi cô Liêu làm cỏ ớt. Nghe tôi nói chuyện, nghe tôi xin lỗi tay cô vẫn làm y như mười mấy năm về trước nhưng tay run, môi cũng run. “Con nhỏ này bày đặt không hà!”. Cô không nhìn thẳng tôi mà nhìn chăm chăm vào những bụi cỏ, sắn chét liên tục bật lên những gốc cỏ, một lúc ngước lên nhìn tôi cười. Miệng cô cười, mắt cô cũng cười nhưng tay không rời cây chét. Hình như cây chét là nơi để cô bám víu cho khỏi ngã suốt mười mấy năm qua, sống thản nhiên bên bến lở.

Tôi hỏi sông Tiền bao lâu nữa bến mới lại bồi. Vì sao mỗi lần đem đất bên này bồi đắp bên kia, lòng sông lại cuộn sóng sục sôi, lại oằn mình ngầu đỏ? Sông Tiền lặng lờ trôi như người vô tư không màng thế cuộc, nó đã trong trẻo rồi khi làm đúng sứ mạng một con sông. Tôi cũng muốn mình trong trẻo hơn. Bất chợt tôi hỏi cô:

- Cô còn thương con không?

Cô nhìn tôi nhưng không hỏi. Cô biết tôi còn một yêu sách nào đó trên nền tảng tấm lòng cô.

- Nếu còn thương con, hãy giúp con chăm sóc ba để... con an tâm chăm sóc má.

Cô bỏ dở bàn tay đang túm bụi cỏ ngước nhìn tôi, mắt cô ngân ngấn. Hình ảnh cô trước mắt tôi cũng sắp nhòe ra nhưng tôi không cho nó làm tròn điều đó.

Ngoài xa kia sông Tiền vào hạn, nước trong veo như có thể nhìn thấy được tận đáy sông.
Truyện ngắn của Võ Diệu Thanh

Yêu trên dòng kênh Tắt


Dòng kênh Tắt bắt đầu vào hạn. Út Đào ngồi xổm trên bè, tay cầm vợt lòn vào cửa bè vớt cá, úp chụp vào cần xé. Cô gái đưa tay còn lại lau mồ hôi trên thái dương, vén tóc nhét vào trên vành tai. Tóc mai chỗ vầng trán không nếp nhăn bị mồ hôi nhoè bết vào nhau chực chấm vào đuôi đôi mắt tròn. Làn da bánh mật thắm nắng ửng lên. Vậy mà gương mặt Đào không tươi được, thậm chí sa sầm khi cô đưa ánh nhìn sang người bên cạnh


Nhàn ngồi cứng đơ, mắt không động đậy, gương mặt rám nắng tối sâm sẩm như bầu trời trước trận mưa chiều. Mớ tóc hơi quăn của hắn mấy ngày nay không màng gội đã sơ cứng như rễ tre. Mấy con ruồi bâu vào giỏ cá ươn, bâu lây vào tóc, vào mũi, vào miệng có bờ môi hơi chì, hơi chẻ, hơi ngố của hắn. Nhàn hình như đang chăm chú lắng nghe âm thanh nào đó.


Út Đào cũng dừng tay nghe thử. Chẳng có âm thanh gì đáng nghe ngoại trừ tiếng ruồi vo vo và tiếng xèm xẹp của mấy con cá ươn. Cạnh Nhàn, phía trong giỏ, những cái bụng cá trắng trương phình, chỗ gần đuôi cá chảy ra dòng nước nhờn, xanh màu mật, bắt đầu bốc mùi khăn khẳn. Nắng càng cao, giỏ cá chỗ Nhàn càng có vẻ đầy lên thêm dù hắn đã dừng tay vớt từ lâu. Cá ở đâu mà nhiều, vớt đợt này chưa hết đợt khác nổi lên. Cô có cảm giác cá đang nằm sắp lớp ở dưới đáy bè chờ đủ giờ đủ khắc đủ ươn là lần lượt nổi lên, cá trắng nổi trước cá đen nổi sau trật tự thấy phát rầu.


Đào muốn nín thở theo từng đợt cá nổi lên mặt nước. Nhàn đang đổ rạp tinh thần ngay trong cái dáng sừng sững thản nhiên kia. Thèm nhìn thấy dáng hắn oằn mình bưng cám cho cá ăn, chỉ khi đó dòng kênh Tắt và những người đang trên dòng kênh này còn chỗ trong lòng hắn.


Đó là những ngày giữa cuối mùa mưa, độ giờ này, Nhàn đang nắm đầy tay mấy viên cám ném chủm chủm xuống bè. Lũ cá háu ăn quẫy đuôi ướt cả áo hắn. Bè cá ồn ào như mọi âm thanh của dòng kênh đổ hết về đây, cộng thêm tiếng Nhàn nhóng lên bờ chọc ghẹo Út Đào:


- Út Đào ơi, nấu cơm xong chưa, qua đây nói chuyện với tụi nó! Bà mua toàn cá trống, thiếu bà chúng quậy tưng, hổng chịu ăn gì cả.


- Tụi nó có ông mê quá trời cần chi tui.


Út Đào nói vậy chớ cũng tê tái bớt củi nồi cơm, chạy ào xuống bè. Nhàn vẫn đùa dai, miệng huyên thuyên tìm lời chọc ghẹo Út. Mắt hắn vẫn dán vào lũ cá, thỉnh thoảng đưa ánh mắt rực sáng nhìn xa vào dòng kênh Tắt, nhìn miếng ruộng nhỏ cạnh bờ đê. Ở đó từ nhiều năm về trước nhà của Nhàn cũng có vài công đất ruộng.

Nhưng hai mùa nước nổi, ba đổ bệnh qua đời, mẹ cũng bỏ ngủ bỏ ăn hết một mùa mưa rồi theo ba. Nhàn bán hai công đất cho nhà Út Tặng để trả nợ. Giờ quanh quất chỉ còn bờ kênh, hai nắm mộ đất trên bờ, bóng một cây còng che mát cả khúc kênh là còn thuộc về Nhàn. Tới mùa gặt nằm trên ngôi nhà nhỏ của Nhàn có thể nghe tiếng cúm núm gọi mùa ấm như hơi thở mẹ nhai trầu hồi còn sống. Mấy thứ đó góp phần làm Nhàn nấn ná lại miền quê này cộng thêm Sài Gòn...


- Sài Gòn chán lắm Út Đào ơi. Người ta sống như chạy, suốt ngày này qua ngày khác. Tui lên đó có mấy ngày chán muốn nghỉ sống”.


- Sài Gòn cái gì cũng phải mua. Muốn có một người bạn nói chuyện cũng phải mua hai ly cà phê mới có chỗ ngồi. Còn một người bạn như Út Đào thì vô phương.”


- Sài Gòn...


- Sài Gòn...


Út Đào thấy Sài Gòn đã được Nhàn mổ xẻ đến từng góc phố ngã đường. Hắn muốn thu nhỏ Sài Gòn bằng nắm tay để ngày ngày được nhìn thấy một người.


Nghe hắn nói riết, cô gái có cái lưng ngắn thắt ngang eo, cấy lúa giỏi hơn cầm lái xe máy, chưa từng đi Sài Gòn cũng cảm thấy Sài Gòn ở kế bên gốc cây gáo, cạnh con kênh Tắt trước nhà.


- Ông ghét Sài Gòn vậy sao không lên trên đó phứt cho rồi.


Nhàn nhìn Út Đào bẽn lẽn. Út Đào hiểu Nhàn hơn cả bản thân hắn. Ngày Nhàn đứng dưới bến nhìn bóng Thúy bước lên xe đi thẳng vào trong, chìm vào mấy hàng ghế chỉ còn lô nhô những cái đầu, Nhàn thở một hơi chậm và dài. Nhàn buồn cũng phải, một cuộc tình dài chỉ tồn mỗi cái quay lưng và một lời nhắn, mà nhắn cho Út Đào mới giận “ Út Đào ơi nhớ vàm kinh Tắt muốn đứng tim” Nhàn cằn nhằn vàm kinh Tắt buồn muốn chết có gì đáng nhớ đâu? Thúy nhắn tiếp “Lâu lâu Thúy về thăm. Về thăm rồi lại đi chớ sống ở đó phải có ruộng chục, ruộng trăm như nhà Út Tặng mới ngóc đầu lên nổi”. Rồi Nhàn cũng đi theo, nhưng cứ bỏ ngủ bỏ ăn vì nhịp sống công nghiệp của Sài Gòn quá hối hả, quá căng thẳng. Nhàn ốm xanh ốm xao hết bệnh nọ đến bệnh kia, buồn bã mang ba lô về xứ.


Út Đào ngồi giữa hai người bạn cô đã chơi thân từ thời niên thiếu, thấy tội nghiệp cho những người yêu nhau. Như cô có phải tốt không. Ba răn đe “con gái con đứa học chi nhiều nồi cơm không biết nấu, mai mốt về làm dâu bị mẹ chồng mắng vốn cho muối mặt”. Út Đào nghỉ học thật sớm rồi chẳng bao lâu được tiếng là cô gái cần mẫn nhất vùng. Mới dậy thì, những đám khá giả trong vùng đã nhờ mối mai dạm hỏi. Sắp tới chọn trong mớ đó một anh coi được, khoác áo cô dâu thì thành người lớn, cuộc đời “khỏe re như bò kéo xe”...


Út Đào thấy đời mình không còn gì phải bận tâm. Chỉ lo cho Nhàn và Thuý. Thương nhau từ hồi mười ba mười bốn, đợi nhau đến ngoài hai mươi mới giật mình nhận ra, không hợp nhau về nơi ăn chốn ở... Hai đứa chia hai nơi ôm nặng trong lòng nỗi nhớ. Rồi biết có bền lòng chặt dạ chờ nhau không, chỗ nhỏ Thúy làm việc nam thanh nữ tú dập dìu... Tội cho Nhàn.


Bởi vậy mà thấy Nhàn lui cui đốn tre bó thành bó, gom tiền dựng bè, cô đã đi lùng khắp miệt kinh Ngang tìm cá giống. Phải lựa giống cá thật dễ nuôi, chịu đựng được cái nắng của mùa hạn thắng kẹo nước kinh Tắt và phải mau lớn, ăn ngon, bán được. Nhàn chăm chỉ vậy, có Út Đào giúp một tay thì hổng mấy hồi dư dả, hổng mấy hồi cho Thúy thấy nước ở kênh này muôn đời đủ ngọt, đủ mát, không chỉ mấy cụm lục bình bóng mượt chòm lá tròn quay mà còn đủ nuôi sống những con người cần cù chịu khó.


Từ hồi có bè cá, Nhàn cũng bớt thẫn thờ, mỗi lúc đi uống cà phê không còn thời gian dừng lại lâu bên cầu vàm nhìn mấy chiếc xe đời mới chạy tuyến chợ Huyện - kinh Tắt -Sài Gòn, phàn nàn sao xe đi về đầy ắp người mà không một lần dừng nơi đầu Vàm xuống khách...


Hắn bám riết với bè cá, ít nhắc tới Sài Gòn:


- Bà Út chọn cá tốt quá. Chúng thiệt mau lớn, đà này non hai tháng nữa cất bè...


Đào cười híp cả mắt, rung cả vai, vô tư như lúc lắc đầu trước đám dạm hỏi của Út Tặng.


- Thiệt hả? Mai mốt bán cá có lời, nhớ chia...


Chia gì? Tiền hả? Ở xứ này chỉ có nhà Út Tặng mới có lắm tiền. Nhàn chỉ có mỗi tình yêu đã để vào cái lưng áo của Thúy rồi bám theo đó lên tận Sài Gòn, có mỗi nỗi ganh tị hắn đã ganh tị với ánh đèn đô thị rực rỡ sắc màu, có duy nhất nỗi đam mê hắn đã dành để nghe tiếng cá quẫy đuôi. Mấy cái đó Út Đào không cần sao?


Vậy mà hắn có húng hắng ho, lũ cá quẫy đuôi ít một chút, Út Đào chỉ lưng chén cơm đã bỏ đũa, lăng xăng xuống bến. Má lo lắng nhìn con gái, hỏi với theo “Sao ăn ít vậy con?”. “Dạ, con mới ăn bún hồi lúc đi chợ mua thuốc trị bệnh cá giùm Nhàn”. Má không dám mở lời cấm cản nhưng cũng nói gần nói xa. “ Cái thằng cố chấp. Loại người như nó thương ai thương tới chết” Út Đào nén một hơi thở dài sũng ướt, họa theo. “ Bởi vậy mới nói. Thằng chả tệ lắm má ơi. Sài Gòn vui vậy, náo nhiệt vậy mà ở mới ba bữa chả đã co giò chạy tuốt về đây. Kệ, tiếp tay để chả mau dư dả có chút đỉnh tiền làm vốn rồi chịu rước Thúy về. Không lẽ mỗi đứa một nơi vầy hoài sao tiện” Đào tính rồi. Sau mùa cá này nếu Thúy không về (mong sao Thúy chịu về)!? Út Đào sẽ gom hết vốn lẫn lãi phụ với Nhàn đóng một cái bè lớn hơn, học kỹ thuật nuôi kỹ hơn. Lúc đó Nhàn chắc sẽ bận bịu lắm. Cô dự tính cho kế hoạch gần mười năm, hai mươi năm và lâu sau nữa... Nghĩ tới đó nhịp tim đập mất trật tự, hai má căng đầy tỏa những mạch máu hồng li ti càng ửng rộ lên. Út Tặng-chàng trai sinh ra trong một gia đình giàu có nhất vùng nhưng cũng được tiếng nhà trùm chỉ- hôm đi thăm ruộng ngang vàm kinh Tắt nhìn thấy đôi má ấy một lần, không biết ất giáp gì về ngủ cứ nói mớ hoài, bị từ hôn cũng không bỏ được thói quen đi thăm ruộng mỗi ngày hai lượt, chân nọ đá chân kia trước nhà người con gái có nụ cười quê thiệt quê mà có duyên động trời. Út Đào nhìn cái dáng ục ịch của anh ta cười... tội nghiệp. Cô còn bao nhiêu dự tính khác không dính gì đến Út Tặng.


Bao nhiêu dự tính của Đào sau chỉ một đêm... Xế trưa sau cái đêm ấy, quanh quất chỉ có tiếng nước nhiễu tỏn tỏn từ giỏ cá ươn xuống bè. Mấy chục triệu Nhàn cùng Út Đào vay đổ vào bè đã biến thành mấy giỏ cá ươn. Bán. Người ta ngại thuốc độc không mua. Bỏ. Làm hôi hám cả dòng kênh. Hai người vừa phải vớt cá trong bè vừa phải vớt cá ngoài kênh đem... cho người ta ủ nước mắm. Đang vớt cá đôi lần Đào nhìn theo cái nhìn của Nhàn, dừng mắt đúng dòng nước trong leo lẻo chảy từ ruộng xuống. Nước trong lắm nhìn tưởng uống được, thậm chí rất mát.


Hôm trước, Đào cùng Nhàn đi ngược theo dòng mương tiêu này nhặt ốc bươu vàng về xay cho cá ăn, đi vài chục thước lại va nhằm vỏ chai của những loại thuốc độc. Thuốc trong chai đã vào cả ruộng. Mấy con chạch, con lươn rút tận đáy bùn cũng trồi lên tìm chỗ chết. Út nhìn thấy vài con ếch nằm ngay trên vũng nước đọng gần bờ mẫu mà rờn rợn trong người. Thuốc bảo vệ thực vật tàn sát cả lũ thiên địch. Biết làm sao? Đi thăm ruộng nào cũng thấy, lũ ốc bươu vàng vặn cái mông nhọn hoắt gặm hạt giống như kẻ cướp ngày ngậm mòn sự sống... Không ai đủ kiên nhẫn suy tính, họ đổ vào ruộng bất cứ chất gì có thể diệt được ốc. Có những chất lưu dẫn cực độc. Dòng nước từ ruộng đã chảy ngược ra kênh, chảy tới đâu cá lắc đầu bỏ ăn, phình bụng tới đó...


Giấc mơ “muốn giàu nuôi cá” của Nhàn sượng trân như mấy củ khoai sùng trong tay người đói bị yếu đường ruột. Nước dòng kênh lúc này chỉ thích hợp để mấy cụm lục bình trôi nhởn nhơ phè phỡn.


- Mình trồng lục bình lấy dây bán Út Đào ơi!


Đào nhăn mặt y như Nhàn moi hết ruột gan mình phơi ra nắng.


Nhàn lại rảnh rỗi đi trầm quán cà phê, chắc lại dừng chân thật lâu bên cầu vàm. Khi hắn về ghé qua nhà Đào, đôi mắt hắn lơ mơ như chứa cả một cánh đồng hoang thật lớn, đi hoài không tới.


- Út Đào ơi! Chắc là tui phải... đi Sài Gòn .


Đào ngồi phịch xuống ghế. Nhàn đã ra phán quyết sau cùng. Hắn còn không thuộc về hắn huống hồ ai đó trên dòng kênh này. Những bóng cây, miếng ruộng cả hai nấm mộ của song thân chỉ gợi nỗi ngậm ngùi. Nhàn chết mất trên mảnh đất này, ngay mùa hạn năm nay. Út Đào hít một hơi thật mạnh cho căng cả lồng ngực, nuốt ực cái gì đó đang chặn ngang ngực, nheo mắt tỏ vẻ lém lỉnh nhìn Nhàn, nhoẻn miệng cười tỉnh khô:


- Chớ chờ gì nữa. Từ đây lên đó đâu có bao xa lại cũng không qua sông Ngân Hà thì mắc mớ gì ngồi đây ôm nhớ. Đi đi! Làm kiếm tiền về trả nợ cho tui. Mấy lúc này chỉ có Thy mới dựng ông dậy nổi.


- Nhưng không biết Thúy chịu thương tui không nữa.


Đào lại nuốt ực hơi thở, cố lấy giọng thật trong, thật tỉnh:


- Sao mà không? Nhưng nhớ bữa đám cưới tôi với Út Tặng rủ Thúy về... đưa dâu nghen!


- Đào ưng Út Tặng rồi hả? Sao lại ưng?- Nhàn trợn mắt lên lại nhíu đôi mày nhìn Đào y như trước mặt có một con người ngoài hành tinh vừa đáp xuống.


- Ông này lạ. Không lẽ ở đó bắt ốc làm mọi ông suốt đời. Làm ăn chung với ông xui thấy mồ. Mấy con cá tự do ngoài bè cũng lây xui ông mà bỏ mạng. Tránh ông càng xa càng tốt. Tại con Thúy nợ ông nên... ông mới nặng tình với nó.


- Sao lúc hổm Út nói Út Tặng giống thùng phi biết đi, còn nói nhà đó giàu nhờ keo kiệt, về đó cực.


- Chớ, về đâu không cực...?


Đào tránh cái nhìn của Nhàn, nhìn mát mắt dòng kênh Tắt đến tận nhà Út Tặng. Từ đây đến đó chỉ đi một đỗi đường mà sao Đào thấy lạ như một vùng nào đó khác xa lắm ngoài trái đất. Mai mốt thế nào Đào cũng theo Út Tặng về bên này thăm ruộng. Chà, nhìn bến nhỏ nơi ba người bạn bước lên bước xuống lấy nước rồi ngồi lại tán dóc, thấy mặt nước lưng chừng bến lại nhớ bè cá của Nhàn cho mà coi. Nhớ mấy ngày giữa mùa mưa cùng Nhàn vắt những nắm cám ném chủm chủm xuống bè. Nhớ tiếng lũ cá háu ăn quẫy náo cả dòng kênh. Lại nhớ hôm cầm vợt vớt cá với Nhàn, cá nổi lên từng đợt... Nghĩ cũng lạ, đang ở quê mà càng nghĩ càng nhớ quê đến phát khóc. Cô quệt nước mắt đứng lên còn tự cười mình. Về nhà người ta công việc đăng đăng đê đê, rồi con rồi cái rồi ruộng rồi vườn, có ở không đâu mà buồn mà nhớ.
Truyện ngắn của VÕ DIỆU THANH

Tập Truyện Vui Hoài Cảm-

Tác giả: Hoài Cảm
Ăn Nói Vô DuyênAnh nè hôm nay tết anh qua chúc tết cho tiá đi... mà nè anh nói chuyện không duyên gì lắm cả làng xóm đều biết vậy... cho nên chúc xong rồi về ngay đừng có ở đó nói chuyện vòng vo tam quốc nha chưa... Rồi chuẩn bị đi đi... không thôi hết ngày.

- Nhưng mà em à... em biết tính ăn nói của anh quá mà... sao mà còn kêu anh qua đó chúc tết cho tiá làm gì... khổ ghê !!!

Wednesday, November 26, 2008

Luật… tránh thai




Một thanh niên to khỏe vạm vỡ đến hỏi bác sĩ:
- Xin cho tôi biết cách tránh thai hiệu quả nhất mà không cần dùng đến thuốc?
- Thế anh làm nghề gì?
- Võ sĩ quyền Anh.

- Vậy thì cứ luật quyền Anh mà thực hiện.
- Ủa, nhưng luật này có dính dáng gì đến chuyện tránh thai đâu?
- Sao không? Luật này chả quy định khi “đấm” đối phương phải “đấm” từ rốn trở lên là gì!

Hồng Hải Anh (st)

Kết quả là...

Sau đám cưới, tự dưng có cuộc ẩu đả dữ dội giữa chú rể và phù rể, khiến cảnh sát phải có mặt để giải tỏa. Viên cảnh sát hỏi anh chàng phù rể:
- Chuyện là thế nào?

- Thưa ngài, theo nghi thức truyền thống của chúng tôi, phù rể phải khiêu vũ với cô dâu hết một bản nhạc, rồi trao cô dâu lại cho chú rể. Nhưng bản nhạc thứ nhất chưa dứt thì bản thứ hai đã vang lên, rồi bản thứ ba... và tôi cứ tiếp tục nhảy mãi. Đang dập dìu với cô dâu, bỗng tôi thấy chú rể chạy lại, mặt đằng đằng sát khí, lấy hết sức bình sinh đấm vào giữa ngực cô dâu... Và kết quả là... ba ngón tay của tôi bị trẹo khớp.

H.M (st)

Nhà nghệ thuật

Tôi đến nhà Tèo giữa lúc nó chuẩn bị đi đâu với vẻ rất quan trọng. Tèo mặc một chiếc áo vét tuyệt đẹp nhưng bên dưới lại là chiếc quần jeans bạc phếch. Tèo chải đầu bóng nhưng lại bôi kem màu bạc lên hai thái dương để tóc có hoa râm. Tèo xức dầu thơm nhưng lại đi đôi giày chưa đánh xi đầy bụi. Tôi ngạc nhiên quá:
- Này Tèo, cậu định làm gì mà có vẻ nhiều mâu thuẫn thế?

Tèo nghiêm nghị:

- Tớ sắp đi dự khai trương triển lãm tranh. Một họa sĩ nổi tiếng mời.

Tôi nhăn nhó:

- Quái lạ, cậu xưa nay có nghiên cứu gì về hội họa đâu?

Tèo trợn mắt:

- Thế ông tưởng tất cả khách khứa đến đấy đều là nhà nghiên cứu đấy à? Sao ông ngây thơ thế!

Tôi cáu:

- Tớ biết là ở chỗ đó có đủ hạng người. Nhưng thú thực nhé, ai dốt kệ họ, chứ mình không hiểu gì mò tới chỗ đó sẽ lòi ra ngay.

Tèo cười rú lên:

- Lòi làm sao được. Cậu ngớ ngẩn quá. Tớ biết cách khiến bà con lác mắt chứ.

Rồi Tèo giảng giải:

- Cậu nghe đây, tới những phòng tranh như thế mình phải biết tạo ra phong cách. Đầu tiên là ăn mặc. Cậu không được diện quá, diện là quê. Cũng không được rách rưới quá, rách rưới là hèn. Cậu phải pha trộn, nghĩa là áo xấu đi với quần đẹp hoặc ngược lại. Tuổi tác đừng quá già vì già tượng trưng cho cũ kỹ, cũng đừng quá trẻ vì trẻ luôn biểu hiện của sự nông nổi. Chính vì thế mà tớ điểm tí bạc lên đầu. Tớ ở giữa hai phe.

Để bà con chú ý và chủ nhân kính nể pha sợ hãi, cậu phải tới phòng tranh một mình. Chớ có đi với đám đông, cậu sẽ bị hòa tan vào đấy.

Cậu phải giữ khuôn mặt nghiêm nghị, ít nói, hơi căng thẳng một chút càng tốt, để chứng tỏ mình đang bận tâm tới những vấn đề nghệ thuật lớn lao. Hết sức tránh cầm thức ăn. Nếu cầm thức uống thì phải uống thật lâu mới hết. Cậu hãy đứng riêng ra một góc, rồi thong thả xem từng bức tranh thật chậm. Hãy nhớ phải chậm, nhanh thì toi đời.

Cự ly xem tranh không hề cố định. Có bức cậu lùi ra xa. Có bức cậu tiến sát vào. Nhưng hãy đừng quên, tốc độ lùi và tiến vô cùng từ tốn. Thái độ thưởng thức tranh phải rất khác nhau. Có bức cậu khẽ nhăn mặt, có bức cậu khẽ mỉm cười, có bức cậu lại vừa nhăn mặt vừa mỉm cười để giới phê bình chả biết đâu mà lần cả. Nhưng thái độ thường trực là hơi nhếch mép một cách bí hiểm. Nó tạo cho thiên hạ cảm giác cậu là một nhà nghiên cứu bao dung, đang thưởng thức một cách chiếu cố. Thỉnh thoảng cậu phải kín đáo thở dài và lâu lâu có thể ho, nhưng đừng ho to quá. Có nhiều bức cậu tháo kính đeo mắt ra lau, rồi lại đeo vào, nhìn kỹ một điểm gì đấy mà chỉ mình cậu nhận ra. Có bức cậu lại nhún vai, cho kính vào túi.

Thời gian xem xét tuyệt đối không được đều nhau. Có bức cậu đứng trước nó nửa giờ, có bức chỉ vài giây. Nhưng cậu cũng nhớ, phòng tranh là một sân khấu, cậu là diễn viên. Người diễn viên vĩ đại luôn biết gây sự chú ý và luôn bắt khán giả chờ đợi, luôn dẫn họ đi từ bất ngờ này sang bất ngờ kia. Vì thế, đang xem bức này, cậu hãy thình lình quay lại bức khác, hoặc khi qua một bức có nhiều người tụ tập, cậu chỉ nên thở hắt mà thôi.

Nói tóm lại, muốn làm ra vẻ một nhà nghệ thuật chân chính, cậu phải khó gần, khó nắm bắt, bất thường, ít tiếp xúc, nhiều đau khổ. Mắt cậu thỉnh thoảng đẫm lệ, mũi cậu lâu lâu lại khịt khịt còn môi cậu thường xuyên bĩu ra. Cậu là một vĩ nhân của lòng đam mê cháy bỏng và niềm tuyệt vọng vô bờ.

Lê Hoàng

Tuesday, November 18, 2008

Vẩn vơ trên khóm mai vàng



Có đến mấy năm, Khang không gặp Thái, nay đột ngột Thái đến nhà, anh hơi ngạc nhiên. Nom Thái không còn phong độ như trước, anh như một nông dân lam lũ thấy rõ. Những nếp nhăn sâu như dao cứa ngang dọc đã làm biến dạng khuôn mặt sáng láng của ngày nào, giờ nom cứ như bức tranh lập thể toàn một màu đất sét của Picasso



Khang cảm giác Thái không phải đến chơi, mà là có việc cần. Vừa ngồi vào ghế, Thái vào đề ngay:



“Tôi bí quá, anh có thể cho tôi mượn



hai triệu?”.



“Làm việc gì vậy?”.



“Cưa bom”.



“Cưa bom?” – Khang nhướng mắt, hỏi lại.



Thái móc bao thuốc Bastos từ túi quần, rút châm một điếu: “Mười ngày sau tôi trả”.



“Lấy liền à?”



“Lấy liền”.



Khang chần chừ:



“Nhưng anh phải nói tôi nghe thủng đã. Cưa bom là sao? Để làm gì? Ở đâu? Tại sao phải có hai triệu?”.



“Thế thì... tôi cảm ơn anh”. - Vừa nói Thái vừa đứng dậy.



Khang lật đật níu bạn ngồi xuống:



“Từ từ, đừng nóng”.



Khang biết tính Thái, hễ dự định việc gì, là thực hiện ngay. Thái như một mũi tên, một khi đã đặt vào chiếc ná của ý tưởng, mũi tên lập tức vút đến đích ngắm hành động. Sở dĩ Khang hỏi vặn là thực tình anh muốn biết, hơn nữa muốn kéo dài thời gian chờ vợ đi chợ về, vì tiền vợ cất. Để hạ cơn sốt ruột của bạn, Khang liền đi lấy hai lon bia 333 trong tủ lạnh, đặt xuống bàn, giọng vui vẻ:



“Giải khát tí đã. Chờ vợ tôi đi chợ về, sẽ có tiền ngay. Bà cụ dạo này ra sao?”.



Thái cầm lon bia, lật bật kéo khuy kêu



cái “xẹt”:



“Suy lắm... Cả thể xác lẫn tinh thần. Đột ngột, những đường nhăn hai bên khóe miệng sâu xuống và tóm vào, trông thật dị kỳ. – Thái hớp ngụm bia, nói tiếp – Mệt lắm. Không khỏe chút nào”.



“Anh đi cưa bom? Đùa hay thật? – Khang cười, nói tiếp giọng lo ngại - Nó nổ tan xác pháo anh đấy”.



Thái cười gớm ghiếc. Nụ cười ngang tầm thần Chết:



“Không tan đâu. Dùng rô bốt cưa máy. Tôi cưa mấy trái rồi”.



Nghe thế, Khang giật mình:



“Té ra, anh mượn tiền mua máy cưa?”.



“Không, máy có rồi. Mượn để chi phí”.



Khang thật sự muốn biết việc này, vì nó mới lạ đối với anh. Anh đứng dậy mở tủ lạnh lấy xâu nem chua và hai lon bia nữa:



“Anh nói rõ hơn việc cưa một trái bom tôi nghe coi. Xin lỗi vì tôi tò mò muốn biết”.



Thái từ tốn uống một hớp bia nữa:



“Anh muốn biết thật à? Chi vậy?”.



“Thuần túy là hiếu kỳ”.



Thái nói chậm rãi:



“Trước tiên, muốn cưa một trái bom, trái bom ấy buộc phải nằm xa ủy ban nhân dân xã”.



Khang cười cười:



“Sợ sập ủy ban chớ gì? Lo lắng cho Nhà nước gớm nhỉ”.



“Không. Nếu gần, ủy ban biết được, sẽ lấy trái bom ấy”.



“Ồ, hóa ra vấn đề là thế. Tôi hiểu rồi. Nhưng làm sao anh kiếm ra trái bom?”.



“Dân tộc thiểu số người ta chỉ”.



“Họ không chỉ chính quyền à?”.



“Không. Họ chỉ chính quyền chi? Trong khi họ chỉ chúng tôi, họ có tiền. Ngay cả cọp cũng thế, họ chỉ cần mách chỗ có cứt cọp, họ cũng vẫn có tiền”.



Tôi nín thinh. Quả thật, Thái nay khác hẳn. Còn nhớ lúc trước anh là một tay thơ văn ướt át, tâm hồn nghệ sĩ lắm. Thế mà nay lại đi cưa bom và bắt cọp. Tôi chạm lon với anh:



“Nào, nói tiếp đi. Hay lắm. Mượn hai triệu để chi phí gì trong việc cưa bom?”.



Thái lại uống một hớp nữa, nói tiếp:



“Mua gạch, mua xi măng xây hồ và nhiều chuyện linh tinh ấy mà”.



Nghe thế, Khang không hiểu gì cả. Anh nhíu mày, hỏi:



“Xây hồ gì cơ chứ?”.



“Hồ cưa bom chớ hồ gì. Này nhá, chúng tôi phải xây tường xung quanh trái bom và cả phả nền nữa. Làm một cái hồ. Đoạn cho nước vào hồ ngập trái bom. Nước phải bỏ đá lạnh đấy. Phải đem cả máy phát điện đến, loại Honda một ký thôi. Đặt rô bốt cưa tự động”.



Khang vỡ lẽ, anh háo hức:



“Thế các anh ở xa trái bom chứ?”.



Thái cười kỳ dị. Cái cười của anh không phải nụ cười, mà chỉ là sự nhăn nhó làm hở hàm răng:



“Đương nhiên ở xa. Từ xa, chúng tôi nối dây vào và bật công tắc điện. Thế là máy cưa. Chỉ vài giờ là cưa lủng. Thiết kế hệ thống này, mất cả ngày trời”.



Khang thở xì:



“Có khi nào bị nổ không?”.



“Có. Muốn chết cưa nhanh, muốn sống cưa chậm. Nhưng trái bom ngập trong nước đá, không bị nóng do ma sát cưa. Hơn nữa, trái bom bị cưa lủng rồi, sẽ không bao giờ nổ nữa”.



Khang nhìn Thái, vẻ thích thú hiện ra mặt:



“Cưa giữa trái bom à?”.



“Ừ, hoặc ở gần chóp cũng được”.



Khang thẳng lưng, vươn tay, lại thở xì:



“Tôi cứ ngỡ anh cưa bằng tay. Hai người ngồi hai bên trái bom mà cưa hì hục cho sứt ra. Anh uống tiếp một lon nữa đi. – Khang vừa nói vừa khui cho Thái – Anh uống đi. Lâu ngày gặp, chúng ta phải làm đủ chục”.



Thái khoát tay:



“Thôi, không dám. Tôi hai lon là vừa. Không như lúc trước đâu. Việc cưa bom không thể một người làm được. Ít nhất cũng phải bốn người. “Con beo” này nằm sâu trong rừng, loại gần cả tấn đấy”.



Thái vừa lột vỏ cây nem, nói tiếp: “Cả ngòi nổ, dài gần hai thước. Chúng tôi đã moi đất ló “hắn” ra rồi”.



Khang thắc mắc:



“Khi đào, anh không sợ bị nổ à?”.



“Phải cẩn thận chớ. Thông thường trái bom đầu to hơn đít, lại có hai hột nổ. Hột nổ chính nằm trước đầu, hột nổ phụ nằm sau đít. Riêng hột sau đít, vặn bù-loong là nổ, còn hột nổ đằng đầu, thốn đập vào sẽ nổ. Bom cũng như cọp nằm ngủ, đừng dại đập vào nó. Muốn đập, phải trói lại đã, mà phải đập có chỗ, không giỡn được”.



“Thuốc nổ và sắt phế liệu anh bán được bao nhiêu?”.



“Còn tùy. Như trái sắp cưa, phải trên ba chục triệu”.



Khang lại hỏi:



“Giá cả anh nắm vững à?”.



Thái cười:



“Vững gì! Họ cũng đếch cần! Sắt vỏ bom là sắt đặc, cực kỳ chất lượng, cũng chỉ khoảng chín, mười ngàn đồng/kg. Thuốc nổ thì có giá hơn, khoảng một trăm tám chục ngàn đồng/kg”.



Lúc này, vợ anh Khang đi chợ về. Chị chào và nhìn sững anh Thái một hồi mới nhận ra.



Chị hỏi:



“Nay anh làm gì mà không thấy đến?”.



Khang trả lời thay Thái:



“Anh ấy bận lắm. Làm kinh tế mà. Số là đàn heo anh Thái cũng sắp xuất chuồng, ảnh đến mượn mình hai triệu để vỗ béo, nửa tháng sau ảnh trả. Chỗ bạn bè, tôi hứa rồi, bà vào lấy cho mượn đi”.



“Ừ, được. Nhưng phải đúng nửa tháng đấy nhé?”.



Thái nói:



“Tôi đã mượn là trả đúng ngày. Có thể trả sớm hơn. Anh chị đừng lo”.



Chị Khang vừa đi xuống bếp, Thái nói với Khang:



“Tại sao anh không nói tôi mượn để cưa bom?”.



Khang cười:



“Lý do cưa bom, vợ tôi sẽ không đưa tiền cho anh mượn”.



“Tại sao?”



Khang cười:



“Phụ nữ họ luôn cụ thể và lo gần, nhỡ bom nổ “đùng” thì không còn người trả”.



Đột ngột, Thái hỏi Khang:



“Tại sao anh tin tôi cưa bom thật?”.



Khang sửng sốt nhìn Thái. Quả thật, Khang chưa nghĩ đến trường hợp này. Có thể lắm chứ. Khang hỏi:



“Thế ra anh vừa nói dối à? Anh mượn tiền làm việc gì?”.



“Thì cưa bom”.



Cả hai lại cười... Ồ không, chỉ có Khang cười, còn Thái nhăn nhó. Đột ngột, không khí trầm xuống. Có lẽ do câu nói gở của Khang chăng? Câu nói đùa “nhỡ bom nổ “đùng” thì không còn người trả”. Nhớ lại, Khang hơi hối hận. Lúc này, chị Khang đem tiền ra, đặt lên bàn:



“Đây. Anh cố gắng nhé, anh Thái”.



“Cảm ơn chị - Thái cầm tiền, nói tiếp - Cảm ơn anh”.



Đợi chị Khang đi xuống bếp, Thái nói tiếp:



“Thế nào tôi cũng đãi anh một trận nhậu ra trò. – Thái hớp một hơi dài cho hết lon bia, rồi xìa tay bắt tay Khang – Xin phép rút lui, lo công việc. Cảm ơn anh. Chào anh”.



Thái ra xe, nổ máy, phóng vút, để lại một làn khói vẩn vơ trên khóm mai vàng. Đột ngột, Khang nhìn theo, lòng thương bạn vô cùng. Một tình thương quyện tròn theo ý nghĩ vừa nảy sinh, rằng tiền cưa bom cũng như làn khói kia, chỉ là việc vẩn vơ trên khóm mai vàng...
Truyện ngắn của Ngô Phan Lưu

Trạng Lợn - Chung Nhi

Trạng Lợn
Tác Giả: Chung Nhi


Họ Dương ở làng Dừa thuộc tỉnh Hà Nam (Bắc Việt) là một quí tộc có nhiều người làm quan to trong triều. Đến đời ông Dương đình Lương thì xa xút, con cháu không nối được nghiệp cha ông, phải làm nghề bán thịt để sinh nhai.

Hai vợ chồng ông này, tuy sống trong nghề giết heo, giết bò, nhưng bản tính thực thà, phúc đức, có tiền vẫn bố thí cho những người khó ở chung quanh và thờ trời sợ phật, chớ không ác nghiệt như phần đông bạn đồng nghiệp lúc bấy giờ.

Một hôm, Lương ông đi lễ ở cái miếu đầu làng về thì gặp một ông cụ già vai đeo khăn gói, tay chống gậy, hỏi thăm tìm nhà trọ.

Lương ông đáp:

- Thưa cụ, ở đây không có quán trọ nào hết. Bây giờ trời sắp tối rồi, cụ mà đi nữa thì lỡ dỡ đường, âu là mời cụ về nhà tôi nghỉ. Tôi không có tiền nhưng đủ cơm nước đãi cụ mươi ngày.

- Nếu cụ có lòng yêu chúng tôi muốn ở lại đây chơi ít ngày.

ông khách mừng rỡ.

- Nếu được như thế thì còn gì hay bằng.

Lương ông hẹn đưa ông khách về nhà, tiếp đãi rất chân thành, quí hóa. Cơm nước xong, ông khách hỏi chủ nhà làm gì. Lương ông cứ thực tình mà đáp.

- Không dám dấu cụ, tổ tiên chúng tôi xưa làm quan to tại triều, nhưng đến chúng tôi tài hèn sức kém nên đành phải bán thịt để sinh nhai.

Hai người trò truyện một đêm, tâm đầu ý hợp. Chủ nhất định lưu khách lại vài hôm, không ngờ ông khách lì lợm ở lại luôn ba tháng, ngày nào cũng hai bữa rượu rồi chống gậy đi chơi la cà hết gò này sang đống nọ, hết ruộng nọ lại đến ao kia.

Thì hóa ra ông nọ đi xem địa lý, mà ông ta không ai khác hơn là ông thánh địa lý Tả Ao. Thấy Lương ông là một người phúc hậu, hiền lành Tả Ao muốn đáp ơn, quyết định ở lại liền ba tháng chính là để tìm cho Lương ông một ngôi đất quý.

Tả Ao hỏi Lương ông:

- Ông bà đãi tôi thành tâm quá, tôi cảm tạ lòng ông bà hết sức. Nay tôi tìm được một ngôi đất quí cho ông bà, vậy xin hỏi ông bà muốn gì?

Lương ông đáp:

- Bẩm cụ, tôi chẳng muốn gì cả, chỉ mong mỏi có một điều là sinh được một đứa con trai có học hơn tôi để nối nghiệp ông cha cho khỏi mang tai mang tiếng.

Tả Ao gật đầu:

- Tưởng gì, chớ nếu chỉ có thế thì dễ lắm. Ngôi đất tôi chọn cho ông phát trạng mà lại là Trạng không phải học. Vậy ông sửa soạn đi để tôi đặt đất cho, kẻo tôi có việc sắp sửa phải đi xa rồi.

Lương ông bèn nhờ ông Tả Ao đặt lại ngôi mộ của thân phụ Ông. Táng xong được vài tháng thì Lương ông làm ăn thịnh vượng hơn trước. Thấy trời thương như thế, vợ chồng Lươong ông lại càng cố tu nhân tích đức. Được gần một năm thì Lương bà có thai. Trong khi Lương bà có thai, Lương ông hàng ngày thấy một hiện tượng lạ:

Nguyên từ nhà Lương ông ra chợ thì phải đi qua một cái gò kêu là gò Thần Đồng. Lần nào đi chọ về Lương ông cũng thấy trong lúm cây có tiếng trẻ con kêu the thé:

- Thầy ơi lần sau đi chợ thầy nhớ mua quà cho con nhé.

Lương ông thoạt đầu không tin, nhưng sau thấy đứa trẻ cứ nói the thé ra như thế ông phải đáp:

- Ờ để lần sau thầy mua quà cho con.

Lương ông không muốn nói dối, hôm sau mua quà thật. Ông gọi:

- Đứa nào đòi quà thì ra đây mà lấy.

Tiếng đứa trẻ nói vọng ra:

- Thầy cứ để đấy, con ra lấy ngay bây giờ.

Lương ông để ý thì đi một quãng, quay lại xem, gói quà biến từ lúc nào không rõ. Từ đó lần nào đi chọ về, Lương ông cũng mua quà cho đứa trẻ. Mua được bảy mươi hai lần thì Lương bà sanh được một con trai. Về sau này, người ta tính ra thì con trai của Lương ông sống được bảy mươi hai tuổi.

Đứa con ấy là Trạng Lợn sau này vậy.

Lương ông đặt tên cho y là Chung Nhị Tục truyền vua Thánh Tôn cũng ra đời cùng ngày với Chung Nhi cả Trạng Ăn, Trạng Vật cũng sinh năm ấy.

Nói về Chung Nhi lên ba tuổi thì triều đình mở khoa thi có hai ông Trạng Nguyên và Bảng Nhỡn vinh quy về qua làng Rùa. Chung Nhi ra xem, thấy thế, cười mà hỏi cha rằng:

- Ông kia là gì mà đột mão đẹp thế?

- Ông ấy là quan Trạng.

- Còn ông kia là gì?

- Ông ấy là quan Bảng.

- Vậy trong hai ông, ai hơn ai kém?

- Quan Trạng hơn quan Bảng.

- Thế thì ngày sau con phải làm quan Trạng.

Từ đó Chung Nhi chỉ mơ ước làm Trạng Nguyên bắt trẻ con làm cờ làm quạt rước mình như rước quan Trạng vinh quy bái tổ. Có người khách lạ, thấy thế, bĩu môi, bảo :

- Trạng dở hay Trạng Nguyên?

Chung Nhi đáp:

- Khách quen chẳng hóa khách lạ.

Khách thấy đứa trẻ đáp thế, giựt mình cho là lạ, bảo Lương ông nên cho Chung Nhi đi học.

Chung Nhi hỏi mẹ:

- Thầy đồ giỏi hơn Trạng Nguyên hay Trạng Nguyên giỏi hơn thầy đồ?

Mẹ trả lời:

- Trạng Nguyên giỏi hơn.

- Thế thì con không đi học thầy đồ đâu.

Mẹ khuyên:

- Muốn làm Trạng, phải đi học thầy đồ mới được.

Nghe mẹ nói thế, Chung Nhi mới chịu cắp sách đi học.

Lương ông làm gà thổi sôi mang sang thầy đồ xin làm lễ nhập tràng cho con. Thầy bảo Chung Nhi vào lễ, Chung Nhi: "Lễ ai?"

Thầy nói:

- Lễ trình đức Thánh Khổng Tử.

Chung Nhi hỏi:

- Thánh Khổng Tử có hơn Trạng ?

Thầy nói:

- Nhất Thánh nhì Trạng

Bấy giờ Chung Nhi mới chị làm lễ.

Lúc xong, Lương ông bảo vào làm lễ thầy. Trạng cho là thầy kém Trạng, nhất định không chịu lễ. thầy bảo:

- Tiên học lễ hậu học văn.

Trạng chịu là phải, lúc bấy giờ mới chịu lễ thầy. Thầy lại bảo:

- Thứ nhất hay chữ, thứ nhì giữ đòn.

Chung Nhi không bằng lòng, nói:

- Phải đòn thì con không học đâu.

Lương ông phải dỗ:

- Con chăm học thì không can gì phải đánh !

- Thế học mấy hôm thì thành Trạng ?

Thầy đồ nực cười:

- Học dăm ba ngày thì thành Trạng.

Chung Nhi tủm tỉm cười thích lắm.

Thầy đọc một câu trong Tam Tự Kinh cho Chung Nhi học "Thiên tích thông minh, thánh phù công dụng".

Thầy đọc xong thì Chung Nhi quên liền mà đọc trẹo ra là: "thiên tích thong manh, thánh phù chỏng gọng" chỉ có câu ấy mà bảy tám ngày không thuộc. Thầy đồ giận lắm bắt nằm xuống đánh Chung Nhi không chịu nằm xấp, cứ nằm ngửa tênh hênh ra. Chung Nhi nói: "Thiên tích thong manh, thánh nằm chỏng gọng" sao thầy bắt con nằm xấp ?

Một hôm thầy đi vắng, có khách vào hỏi:

- Thầy có nhà không?

Chung Nhi nói vọng ra:

- Thầy đi vắng rồi, chỉ có Trạng ở nhà thôi.

Khách cười hỏi lại:

- Trạng học đến đâu rồi?

Trạng nói văng mạng:

- Trời đấy cao sâu. Trên trời dưới đất đâu đâu cũng tường. Khách hỏi:

- Trời là gì? Đất là gì ?

- Trời là thiên, đất là địa. Ông không học hành gì cả hay sao mà không biết ?

Khách giận mắng:

- Con cái nhà ai, mới nứt mắt đã láo xược ?

Chung Nhi vênh mặt ra :

- Ông tưởng ông giỏi thì tôi đố ông biết trên trời có gì và dưới đất có gì ?

- Trên trời có trăng, có sao, dưới đất có núi có sông chứ gì !

Trạng - từ giờ trở xuống Chung Nhi tự xưng mình là trạng.

Trạng cười khanh khách và nói:

- Ông này không học có khác, trên trời có hai người mà dưới đất có một người học trò chứ !

Khách hỏi :

- Trên trời có hai người là ai? Mà dưới đất có một người là ai?

Trạng lại cười diễu khách một hồi lâu mới nói :

- Hai người là nhị nhân (chữ thiên có chữ nhị và chữ nhân). Còn dưới đất có một người là Sĩ (chữ Địa có chữ sĩ ở trong)

- Người sĩ ấy là ai vậy?

- Là Trạng chớ còn ai nữa.

Khách ra về, lòng băn khoăn suy nghĩ về thằng bé không ngoan. Một hôm, Trạng tự nhiên bỏ học về nhà. Lương bà hỏi tại sao thì trạng nói:

- Tại con học hết sách rồi. Con về nhà để sửa soạn đi thi đây.

Thấm thoắt trạng được mười ba tuổi mà học quyển "Tam Tự Kinh" chưa thuộc. Lương ông rất buồn phiền.

Một hôm, hai cha con đi sang làng bên mua lợn tại nhà một vị quan hồi hưu. Quan ông đang ngủ, quan bà đi vắng. Đợi cho quan dậy, Lương ông cùng con tiến vào. Ngái ngủ, ông quan thấy người mua lợn, đứng lên lấy tay chùi ngang mắt, vuốt bộ râu rẽ sang hai bên, đoạn búi tóc rồi quay vào trong nhà.

Thấy thế, Trạng bảo cha cứ vào trong nhà mà bắt lợn, Lương ông hỏi tại sao thì Trạng đáp:

- Thì vừa đây quan đã bằng lòng rồi mà. Ngài lại nói cho biết giá cả lợn là bao nhiêu, cha không trông thấy à ?

- Quái, mày nói làm sao, chớ tao có thấy quan nói gì đâu?

- Quan không nói vì quan khinh cha con mình nghèo, nhưng quan ra hiệu bằng tay.

Bắt lợn xong, Trạng bảo người nhà quan cho Trạng nộp tiền. Người làm hỏi: "Thế anh đã thỏa thuận về giá heo với quan rồi à? Bao nhiêu?

Trạng đáp:

- Mười tám quan.

Người nhà quan la lên:

- Mười tám quan, rẻ quá. Ta phải vào bẩm quan mới được.

Tên người nhà vào bẩm quan thực. Ngài hét lên:

- Ai bán cho nó mười tám quan đâu.

Trạng nói:

- Bẩm quan, khi nãy chúng con hỏi giá, quan gật đầu rồi lấy tay chùi ngang mắt rồi lại vuốt từ hàm rồi vuốt hai bên râu mép. Như thế chẳng là thập bát là gì?

Quan phì cười:

- Mày nhỏ mà biện bác giỏi. Thôi, tao cũng bán cho mày.

Mùa thu năm sau. Lương ông bị bịnh rồi mất. Trạng đói đi lang thang làng này xóm khác, hết rược chè lại cờ bạc. Mẹ buồn lắm. Trạng nói:

- Mẹ đừng buồn. Nay mai con đỗ trạng, tha hồ sung sướng. Mẹ cười:

- Cái thứ con có đỗ trạng họa chăng là Trạng Ăn, Trạng Rượu, Trạng Dổ Bác, Trạng Lông Bông.

Tức quá, Trạng vào gặp mẹ xin đi quyết đỗ trạng mới nghe. Một hôm, đến làng kia, Trạng gặp hai người học trò lều chõng đi thị Trạng chắp tay hỏi:

- Thưa, hai ông đi đâu?

- Chúng tôi chảy kinh đây. Còn ông đi đâu?

- Tôi cũng chảy kinh. Hay là ta cùng đi cho vui.

Vì trạng lém lắm, nên mọi tiền chi phí hai người học trò kia cũng chi đỡ trạng.

Đi đến một xóm kia thì trời tối. Có cái quán bên đường, cả ba cùng vào nghỉ đêm. Chẳng ngờ quán ấy lại là nơi tụ họp cờ bạc, đầu trộm đuôi cướp, chúng vẫn rình rập để cướp hành lý của ba người. Bất ngờ đêm ấy trạng lại nằm mê, bỗng dưng hét to lên :

- Đây rồi, bắt chúng chói cả lại cắt tiết cho ta.

Bọn trộm cướp thấy thế cắm đầu bỏ chạy. Hai người học trò nghe đầu đuôi câu truyện cảm ơn trạng hết lời và phục trạng là người can đảm, có biết đâu rằng trạng nằm mê thấy lơn, đòi bắt trói lợn lại để đem làm thịt bán.

Hôm sau, ba người đi đến một làng kia, xin vào trọ đêm. Qua cổng thấy đề ba chữ "Thủ chư dự" lấy ở trong quẻ dự Kinh Dịch, trạng đọc thủ chư lại tưởng nghĩa là sỏ lợn, bảo hai ông kia:

- Tối nay, anh em ta có thủ lợn đánh chén.

Hai ông kia đùa:

- Đi đường xa mà có người lại cho nhắm thủ lợn, chẳng là may lắm sao !

Ngờ đâu tối hôm ấy họ vào trọ nhà ông thủ chi, nhân ngày xuân tế, ông pha một cái thủ lợn ra mời ba người đánh chén cho vui. Hai người bạn phục trạng biết việc sắp tới như thần và nói:

- Chắc là bác giỏi lý số, tiên tri lắm mà bác giấu chúng tôi.

- Không biết tiên tri, lý số, sao là trạng được.

Đến một làng khác, thấy có một các bảng đề hai chữ "hạ mã", trạng đọc lầm là bất yên (vì chữ nho hai chữ hạ mã và bất yên gần giống nhau) trạng nói:

- Làng này bất yên.

Hai ông bạn tủm tỉm cười, không cải chính, và cũng chiều ý trạng không vào làng ấy. Thì vừa đi qua làng một lát, cả ba nghe thấy tiếng kêu la ầm ỹ, thì ra là đám cháy, cháy một lát một nửa làng ra tro.

Lại một lần khác, đi đến một ngôi chùa kia, cả ba rủ nhau vào vãn cảnh. Nhà sư thấy ba ông cùng là thơ sinh, đề nghị làm thơ tức cảnh, Hai ông kia vẫy bút đề thơ nét bút như rồng bay phượng múa lời thơ hàm sức chứa chan ý vị. Thấy thế Trạng nghĩ "Mình không làm thơ thì chuế". Nhưng làm thơ thì biết làm thế nào. Đánh liều. Trạng cũng viết "Thâm tinh lập lái" những vì dốt, Trạng lại viết thành "Thâm tinh huyền lý. Nhà sư đọc xong bốn chữ thấy nét không đẹp nhưng ý vị xâu xa, đập tay vào đùi bôm bốp thán phục trạng hết lời.

- Tuyệt tác ! Tuyệt tác ! "Thâm tinh huyền lý" tức là tình xâu xa, lẽ nhiệm mầu, hay quá ! Thật hợp cảnh nhà chùa.

Có biết đâu rằng chính ra trạng định viết bốn chữ "thâm tinh lập lái" tức là tiếng lóng của bọn lái lợn, có nghĩa là ba quan và mười hai quan.

Nhà sư lưu ba thày ở chùa trọng đãi và ngâm không tiếc bốn chữa thần của trạng và cũng ngâm luôn cả hai bài thơ của ông học trò cùng đi với trạng. Trạng cúi đầu nghe và chỉ một lát thì thuộc lòng cả hai bài.

Một hôm kia, ba người đi qua một trang trại, nhìn vào có một cô gái xinh đẹp tuyệt trần đang hái hoa trong vườn, có hai thị nữ theo hầu. Trạng mê quá, lập mưu từ giã hai người bạn, rồi quay lại vẩn vơ ở ngoài trang trại để tìm cách được gần người đẹp. Hỏi thăm người chung quanh thì biết giai nhân tuyệt sắc nọ là con quan trí sĩ họ Bùi.

Bùi tướng công chỉ sinh được một mình nàng là con gái, đặt tên là Phấn Khanh...

Tình cờ hôm ấy, Bùi Tướng Công đang ngủ mơ màng thì có người trong mơ đang đánh thức giậy và bảo "ra ngay ngoài cửa để đón quan trạng".

Tỉnh giấc Bùi tướng Công vội đi thẳng ra cổng thì thấy trạng. Bùi tướng Công mời trạng vào nói chuyện.

Hoảng sợ trạng tưởng là Bùi tướng Công bắt trạng giam, trạng nói:

- Tôi là học trò, chảy kinh đi thi nhất định lấy cái trạng nguyên. Thấy trang trại của tướng công tươi tốt, tôi dừng chân lại ngắm chớ có tình ý gì đâu mà tướng công lại...

Vừa nằm mê thấy có người bảo ra cổng đón trạng bây giờ gặp ngay một người học trò chảy kinh quyết giựt lấy cái trạng nguyên. Bùi tướng Công tin ngay đúng người nầy là trạng, bèn giữ lại thiết tiệc ở Uyên Ương Đình. Rượu ngà ngà say, Trạng súc cảnh sinh tình đọc vanh vách hai bài thơ của hai người bạn làm ở chùa mà trạng đã thuộc lòng. Bùi tướng Công lè lưỡi chịu là thơ hay, gọi tiểu thư lấy giấy bút lên chép lại để họa vần. Tiểu thư họa vần lại, lời thơ cũng không kém phần xuất sắc.

Ưng ý quá, Bùi tướng Công bèn ngỏ ý muốn gả con gái cho trạng. Trạng nghiêm tốn trả lời.

- Thưa tướng công, người con trai lấy công danh làm chính, chuyện vợ con là thứ yếu. Tướng công có lòng yêu, xin lãnh ý nhưng để cho khi nào đỗ trạng về mới có thể tính chuyện tiểu đăng khoa.

Tướng công phục trạng sát đất. Vào phòng riêng để nghỉ. Trạng bỗng thấy ở trên tường có một bức hoa. tiên ghi mấy chữ như sau: "Bát đao phân mê phấn", nghĩa là chữ Bát, chữ Đao, chữ Phấn, chữ Mê, bốn chữ ấy chấp lại thành chữ Phấn. Bùi tiểu thư viết mấy chữ ấy là có ý đố ai đối được thì sẽ lấy làm chồng.

Vốn mù chữ, trong năm chữ ấy Trạng chỉ biết có chữ "Phấn" đoán là tên của tiểu thư; sẵn trên ấn có bút nghiên cũng vạch tên mình là "Chung" vào. Viết xong, nằm quèo ra ngủ. Đến sáng, Phấn tiểu thư thấy chữ "Chung" tán ra câu đối là "Thiên lý trong kim chung", nghĩa là chữ Thiên, chữ Lý, chữ Kim chắp lại thành chữ Chung. Nàng nức nở khen hay và cho rằng chỉ có người này mới xứng đáng là chồng nàng. Bèn bày lễ ra giữa trời cảm tạ trời đất đã run rủi cho nàng được người chồng xứng đáng. Đoạn nàng và trạng cùng làm lễ thề nguyền, lấy trời đất chứng từ cho mối duyên lành hiếm thấy.

Bùi tướng Công mừng rỡ sai đặt tiệc ở Thủy Đình trên hồ Bán Nguyệt ăn mừng và đưa một mâm vàng cho Trạng để làm tiền lộ phí. Khi từ biệt. Phấn tiểu thư đưa cho chàng một phong thự Đi được một quãng đường dở đọc thì là một bài thơ tứ tuyệt:

Bán nguyệt chi trung tương hội sứ,

Uyên ương đình nội bá bôi thi.

Nguyên quãn kiên sấn thanh vân lộ,

Tảo tháp hồi lai đan quế nhi.

Tạm dịch là:

Gặp nhau bán nguyệt hồ này,

Uyên ương đình nọ cùng nhau tạc thù.

Mong chàng sớm chảy đường cũ,

Bẻ cành đan quế cho phụ tấm lòng.

Xem thơ xong, hả quá, Trạng quên mất cả đường đi, rồi lạc vào một cái miếu hoang ở giữa đồng. Trong miếu có một ông cụ đầu râu tóc bạc đang ngồi uống nước. Trạng mon men lại gần cụ, ông cụ hỏi:

- Chảy kinh sao lại vơ vẩn vào đây?

Trạng thưa là bị lạc đường. Ông cụ cầm cái gậy chọc vào bụng Trạng một cái và bảo:

- Muốn chảy kinh, hãy ngồi xuống bóp chân tay cho lão một lát, lão sẽ chỉ đường cho.

Trạng chịu liền. Bóp chân tay xong, Trạng hỏi:

- Bẩm cụ, thế bây giờ cụ đã bằng lòng chỉ cho cháu đường vào kinh chưa.

ông lão cười khà khà.

- Đâu có dễ dàng thế được. Lão hỏi thực,thầy chảy kinh làm gì ?

- Bẩm, để thi lấy Trạng nguyên.

- Tốt lắm. Nhưng muốn đỗ trạng nguyên, phải nghe lời lão.

- Thưa cụ, dạy làm sao?

- Thầy phải cõng lão vào tới kinh thì thầy đỗ trạng.

Trạng lại chịu liền. Cõng ông lão một lát. Trạng nghe thấy ông lão hỏi:

- Thầy vào kinh đỗ trạng làm gì ? Sao không ở luôn Uyên Ương Đình làm con rể Bùi tướng Công có hơn không ?

Trạng giựt nảy mình, quay lại hỏi:

- Ủa, sao cụ biết. Cụ là thần phải không ?

ông cụ đáp.

- Ta chẳng phải là thần mà cũng chẳng phải là mạ Ta chỉ là một người đối với thầy có tiền duyên túc hải. Mai sau, ta còn có phen hậu hội. Nhưng ta bảo cho thầy biết thầy sẽ còn lận đận năm năm nữa, và hai năm nữa mới chiêm được trạng nguyên. Năm nay muốn đậu cũng chưa được vì kỳ thi hoãn.

Nhưng thầy nhớ lấy điều này: tháng giêng năm tới thầy nhớ ra ngồi ở thành phía Đông thấy ai gieo mình từ trên xuống thì chạy lại cứu lấy và cõng chạy ngay đi, không cần hỏi han gì cả.

Nay lão hãy tạm dạy cho thày phép bói toán để làm kế sinh nhai và cũng là để tiện bề giao tiếp hầu rộng đường thi thố sau này với đất nước.

Mừng quá. Trạng chấp tay lạy cụ già và tôn làm thầy. Ông cụ dạy cho trạng đủ các cách tiên tri bói toán. Dạy đến đâu trạng nhớ đến đó. Thì ra từ lúc ông lão cầm cái gậy chọc và bụng Trạng, Trạng từ một người ngu dốt tối tăm đã hóa ra một người thông minh, học một biết mười.

Thấy Trạng đã giỏi, ông lão mới chống gậy đi vào rừng mất tích. Còn trạng thì mở một ngôi hàng bói toán. Tình cờ, lại gặp hai người bạn cũ. Hai người này nhờ Trạng bói cho một quẻ để biết khoa này có đậu hay chẳng. Trạng gieo quẻ bảo: "Quẻ này là quẻ quan long vô chủ, kỳ thi phải hoãn không có ai đậu mà cũng không có ai rớt".

Hai người bạn cho là trạng nói láo. Không ngờ năm ấy hoãn thi thực. Ai cũng xanh mặt chịu là trạng tiên tri trúng phóc như thần.

Một hôm có quan thượng thư trong triều mất con thiên lý mã, nghe đồn trạng bói cát hung đúng lắm, cho người ra mời vào dinh xem một quẻ. Thằng kẻ trộm thấy quan cho người ra xem bói lo lắm, bèn lẻn vào nhà trạng, đứng nghe trộm. Nguyên trạng thấy ông thượng thư cho người đến bói, lấy làm lo lắm, cả đêm trằn trọc suy nghĩ không ngủ được. Gần sáng trạng lấy quyển Tam Tự Kinh ra đọc đến câu "Mã ngửa ngực đương thử lực sức, nhân sở tự" thì đọc to lên.

Tên kẻ trộm tên là Tự, đứng nghe lỏm, thấy thầy đọc trúng tên mình, vội bỏ ra cắn rơm cắn cỏ lạy thầy đừng nói tên mình với quan thượng thư.

Trạng hét lên:

- Ừ, mày lấy cắp ngựa ngày nào và để đâu. Phải nói ngay thì tao tha tính mạng cho, không hô danh nữa.

Hôm sau, vào dinh quan thượng thư, Trạng reo quẻ suýt soa khấn vái rồi cứ lời tên trộm kể lại vanh vạch. quan thượng thư cho người đến nơi, quả thấy ngựa quý thưởng cho rất nhiều vàng bạc. Từ đó, trạng nổi tiếng như cồn, ai ai cũng phục trạng là trạng bói.

Một hôm trong cung, công chúa mất đôi vòng ngọc rất quí mang từ bên Tàu về. Nghe có trạng bói, Công Chúa cho mời Trạng vào xem một quẻ. Bí quá, Trạng "tranh thủ thời gian" bảo phải làm một cái lầu cao suy nghĩ và lạy trời lạy đất mới xem được quẻ bói này. Công Chúa cũng chịu. Trạng hẹn nửa tháng thể nào cũng tìm ra được thủ phạm. Nằm mười ngày ở trên lầu cao mà chẳng tính toán được gì mà cũng không tìm ra được mưu mẹo gì bịp công chúa Trạng buồn muốn chết, than thân : "Mình có ngờ đâu lại đến nước này. Một thằng ăn cắp một thằng chịu chết lây, thực là quýt làm cam chịu.

Bấy giờ tên thị vệ phụ trách canh gác tên là thằng Cam. Nửa đêm thanh vắng, nghe thấy trạng nói thế Cam sợ cuống lên, sụp xuống lạy trạng mà rằng: "Con cắn rơm cắn cỏ xin thầy tha cho, con chết dại chơi với thằng Quýt dính líu vào trong vụ này, nhưng bao nhiêu tội lỗi là do thằng Quýt cả chứ con tuyệt nhiên là chỉ theo đóm ăn tàn mà thôi. Thầy có trị tội thì trị tội thằng Quýt, chớ phần con, con xin thề là con không có tội. Thầy hô danh con ra, đức vua mà giết con thì quả là oan uổng quá.

Cố nhịn cười, Trạng quát lên. "Ừ, mày thú tội thì ta cũng tha cho, nhưng thằng Quýt nó ăn trộm ra sao, đôi vòng nó dấu ở đâu, mày cứ thực khai ra thì ta tha tội chết.

Thằng Cam kể vanh vách sự tình đầu đuôi cho Trạng nghe. Hôm sau, Trạng mời Công chúa lên lầu, reo quẻ rồi cứ lời thằng Cam khai mà thuật lại. Nhà vua cho bắt thằng Quýt thì nó thú tội, không sai một mảng.

Lấy lại được đôi vòng, công chúa đem vàng bạc thưởng cho Trạng Bói. Từ đó Trạng Bói thành một vị thần, bàn dân thiên hạ đều lắc đầu lè lưỡi chịu là một vị tiên xuống hạ giới.

Một hôm có ba người đi thi, nghe thấy danh tiếng của Trạng như thế, rủ nhau sửa một cái lễ để vào xem. Lúc trò truyện, mới biết ba người ấy là những người nổi tiếng: một người là Trạng Ăn, một người là Trạng Vật, một người là Trạng Cờ.

Trạng Bói reo quẻ xong, nói: "Bốn chúng ta tuổi còn trẻ, đường bay nhảy còn dài nhưng số còn lận đận vài năm nữa, phải chờ thời mới được".

Bốn người ở với nhau rất tâm đầu ý hợp. Mùa xuân năm ấy. Trạng Bói nhớ lời thần dặn, rủ ba trạng kia hằng ngày ra đứng ở cửa thành phía đông. Thì vào một đêm đông, khoảng canh ba, Hoàng cung tự nhiên bốc cháy, dân chúng nổi làm loạn, ngoài đường giặc cướp như rươi.

Thấy biến, bốn trạng đang đứng xem thì Trạng Bói trông thấy một người mặc áo xanh, nhảy từ mặt thành xuống đấy Trạng Bói không nói năng gì hết chạy ngay lại cõng người mặc áo xanh lên vai. Và chạy không quay đầu trở lại.

Người ấy là Vua Thánh Tôn.

Thấy có người cõng vua Thánh Tôn chạy trốn một bọn người mang võ khí hùa lại đuổi theo. Trạng Ăn, Trạng Vật và Trạng Cờ xông ra cản lại, thành ra Trạng Bói chạy thoát về mạn Chùa thầy.

Mấy hôm sau, tình hình lắng dịu. Trạng Bói cắt Trạng Ăn và Trạng Vật túc trực bên vua Thánh Tôn còn mình và Trạng Cờ thì hoá trang về thành xem xét sự tình. Đến lúc bấy giờ mới biết là Nghi Dân tiếm vị và sát hại trung thần, may nhờ hai ông Nguyễn Sĩ và Đinh Liệt chiêu binh mãi mã, trừ được Nghi Dân. Hai vị trung thần bèn tâu với Thư Hậu sai người đi tìm Thánh Tôn nhưng tìm đâu cũng không thấy.

Trạng Bói nghĩ kế, cho người môi giới với Thái Hậu mời ông vào xem bói. Trạng nói riêng với Thái Hậu đã cứu được nhà vua và hiện để ở chùa Thầy.

Mừng rỡ, Nguyễn Sĩ và Đinh Liệt đem binh sĩ về chùa Thầy đón rước.

Vua Thánh Tôn phong thưởng cho hết thảy các công thần, ai cũng cảm ơn, riêng có Trạng thì cho chức tước gì cũng không lấy, chỉ xin ban cho hai chữ "Trạng nguyên".

Có quan đại thần quỳ tâu:

- Muôn tâu bệ hạ, chức Trạng Nguyên chỉ dành riêng cho các bậc văn hay chữ tốt tài ba xuất chúng. Kẻ có công thì thưởng vàng bạc gấm vóc hay phong cho đến quan là cùng, không thể phong cho chức Trạng Nguyên.

Vua Thánh Tôn nói :

- Tài giỏi đến như trạng, văn chương nào bằng ? Ngài cứ phong Trạng là Trạng Nguyên.

Một hôm vua ngự giá đến chùa Thầy lễ tạ và ban cho các vị sư trụ trì rất nhiều vàng bạc để tu bổ lại chùa. Đến khi sửa đến gác chuông, nhà vua đọc "Thiên lý trọng kim chung" rồi hỏi bách quan có ai đối được không. Tất cả đều đứng ra như phỗng".

Nhớ lại câu của Phấn Khanh tiểu thư, trạng liền đọc: "Bá đao phân mễ phấn". Vua hết lời ca ngợi Trạng là bực tài học siêu phàm và bảo:

- Ta phong cho trạng chức Trạng Nguyên quả thật là đúng quá.

Sau đó vua ban cho cờ biển, tặng rất nhiều bạc vàng và ba chữ. "Chân Trạng Nguyên" cho về vinh quy bái tổ.

Đi qua trang trại họ Bùi, Trạng rẽ vào lạy nhạc phụ, làm lễ thành hôn với Phấn tiểu thư rồi về nhà lạy mẹ. Lúc đó Lương Bà đã già lắm ! Phụng dưỡng mẹ mấy tháng, Trạng và Phấn tiểu thư cùng rước mẹ vào Kinh vì có chiếu chỉ khẩn cấp. Đến nơi mới biết nhà vua cho vời Trạng đi dẹp giặc Xiêm La.

Trạng Lợn - tức Trạng Bói - mời Trạng Vật làm tiên phong trạng Cờ đốc thúc thủy lộ, Trạng ăn phụ trách bộ binh. Phấn Khanh cũng lĩnh ấn, đeo gươm theo chồng đánh giặc. Ta thắng trận, hai nước Xiêm Lào chịu hàng phục, năm năm lại mồi lần triều cống.

Năm ấy vua Tàu sai sứ sang nước ta để phong vương cho vua Thánh Tôn. Như vua Tàu còn có ý muốn thử xem vua ta ra sao. Một hôm sứ Tàu rủ nhà vua đánh cờ. Vua lo lắm, gọi Trạng Lợn vào hỏi làm cách gì để thắng cờ. Trạng tâu:

- Bệ hạ cứ cho bầy bàn cờ ra giữa sân rồi sai Trạng Cờ ăn mặc giả làm lính che lọng đứng hầu. Trên lọng, dùi một lỗ thủng. Hễ Trạng Cờ xoay lọng, ánh nắng chiếu vào chỗ nào thì bệ hạ cứ nhắc quân đi vào chỗ ấy.

Vua khen phải sai lập bàn cờ. Quả nhiên đánh một lúc sứ Tàu bị dồn vào nước bí phải chịu thua.

Tuy vậy sứ tàu chưa chịu thôi. Hôm sau y lấy cây gỗ lớn ngầm đem bào nhẵn đầu đuôi như nhau rồi đố vua Thánh Tôn xem đầu nào là ngọn.

Vua lại hỏi Trạng, Trạng tâu:

- Bệ hạ chớ lo, hạ thần đã có cách.

Đêm đến bèn sai người ra phóng uế bừa bãi vào mấy cây gỗ,. Sáng, Trạng kêu rầm lên là dơ bẩn bắt khiêng gỗ ra sông rửa và dặn hễ thả xuống hấy đầu nào chìm thì đánh dấu. Khi đem gỗ về, trạng ung dung chỉ vào đầu có dấu bảo đó là gốc.

Sứ Tầu lại càng tức, lấy cây gỗ bào nhẵn rồi sơn kín cả đi đề ba chữ "Hồ bất thực" rồi đố vua biết là cây gỗ gì:

Trạng ứng khẩu tâu vua:

- Hồ bất thực là cáo chẳng ăn, cáo chẳng ăn thì cáo đói, cáo đói thì cáo gầy, cáo gầy là cây gạo.

Sứ Tàu thua mấy lần than rằng:

- Ai ngờ nước Nam lại có nhiều nhân tài.

Từ đó, không dám dở trò gì nữa.

Về phần ta thì cứ ba năm lại phải cử người đi sứ một lần, Nhà vua cử trạng đi. Trạng Ăn, Trạng Vật, Trạng Cờ cùng đi theo.

Tới Tam Quan, quân canh không mở cửa, một lát đem ra một cái biển có viết chữ thập, lấy tay chỉ đông chỉ tây Trạng bực mình quay lại bảo viên phó sứ :

- Nó muốn dọc ngang thì khoanh cho nó một cái vòng tròn.

Thấy cái vòng tròn, quân Tàu giật mình nghĩ rằng: "Ta nói tung hoàng vũ trụ, thế mà nói biết đối lại là bao quát càn khôn. Giỏi thật !

Qua tam quan rồi, đến một quãng đồng bát ngát, trông thấy một ả con gái đương vạch quần đái, trạng bảo viên phó sứ:

- Chép đi !

Viên phó sứ thưa "Chép gì".

Trạng chặc lưỡi nói:

- "Nong tay chí bẹn đỏ hân hân".

Viên phó sứ nghễnh ngãng chép ra.

"Đông Tây chí biện đỏ hân hân".

Khi đến Yên Kinh, quan sở tại ra đón vào rồi viết một vế câu đối. "Nam Bắc lai triều đố tể tể" rồi xin sứ đối chọ Trạng quay lại bảo viên phó sứ cứ giơ cái giấy biên lúc nãy đọc lên. Viên phó sứ đọc: "Đông Tây chí biện đỏ hân hân".

Quan Tầu kinh sợ nói: "Thậy là Thần Đồng phù thủy" chớ đâu lại có người giỏi đến thế.

Vua Tầu cùng các sứ dạo vườn ngự đầy hoa thơm cỏ lạ, dưới có hồ bán nguyệt, trên hồ có đình bác giác bốn bề bỏ trống giữa đình treo hai chữ ngự thi, đó là "chùng nhị". Vua Tàu hỏi sứ có biết đó là ý gì không. Trạng vô tình ứng khẩu đọc ngay "Phong nguyệt vô biên".

Vua Tàu có ý tả cái đình này gió trăng vẫn không tường. Thấy Trạng ứng khẩu nhanh nhẹn và thích ứng, vua Tàu phục sát đất.

Tháng năm năm ấy, trời không mưa, vua Tàu yêu cầu sứ ta lập đàn cầu mưa, Trạng nhân lời nhưng lo lắm vì không biến cầu bảo cách nào cho có mưa. Chợt nhơ tục bên ta thường bảo khi nào cỏ lang và rễ si trắng là trời sắp mưa. Trạng bèn bảo lập một cái chòi cao, trên dán la liệt các thứ bùa, các thứ bát quái, các vị sao, các vị thần ra trợ, một mặt sai người đi xem hễ thấy rau lang già, rễ si trắng thì về bảo ngay.

Vài hôm sau có người về báo tin rau lang già rồi, rễ si trắng rồi. Trạng lên đài xõa tóc chống gươm bài quyết rồi đọc một tràng toàn những tiếng lóng lái heo, ai nghe cũng không hiểu mô tê gì cả như mộc tinh, thâm tinh cổ tinh, kẹo tinh, chó... tinh rồi kết cục bằng loạt linh tinh beng, linh tinh beng ma, linh tinh quỷ... Đoạn cầm một bình nước lấy mỗi cành lá vẩy lên trời, hét ba tiếng khóc ba tiếng. Lễ chưa xong thì sấm sét ù, mưa xuống như trút. Vua Tàu và các quan Tàu khiếp sợ và cho rằng gia cát Vũ Hầu ngày xưa nhất định không thể nào sánh kịp.

Hết hạn đi sứ, trạng được về nhưng vì phục tài của trạng ngài cố nằn nì trạng ở lại để dạy Hoàng tử. Trạng bèn sai lập một cái chòi thật cao, bắt Hoàng tử phải trèo lên. Vì sung sướng quen thân, Hoàng Tử mệt muốn chết, trèo lên tới lầu thì thở hồng hộc.

Trạng hét mắng, dặn Hoàng Tử sao không chào thầy lại đứng thở như bò. Như thế là hỗn, tiên học lễ nhiên hậu mới học văn. Trạng sai nẹt hoàng tử ra đánh, đánh rồi mắng, mắng rồi lại đánh, không dạy một chữ nào.

Thấy thầy dữ đòn quá. Hoàng hậu đành phải nói với vua Tàu xin để cho Trạng về kẻo "sứ Việt Nam nhớ nước nhớ nhà, cáu kỉnh đánh con mình có khi chết mất".

Thế là Trạng thành công trong việc thiết mưu lập kế để được vua Tàu cho về nước.

Về sau, Trạng Lơn được phong làm thượng quốc công, còn Phấn nương được phong làm Thất phẩm phu nhân, cả hai vợ chồng cùng ngao du sơn thuỷ đàn địch ca hát nay bến này, mai bến khác.


Chung Nhi

Người Vợ Thật Thà.....

Tác giả: Langdzu


Có 2 vợ chồng đang trên đường lái xe về nhà, lái một khoảng xa bỗng dưng xe Police rược theo sau... Ông chồng cho xe ngừng lại đậu bên lề đường. Ông Police bước xuống tiến đến gần bên ông chồng và nói;

-Police : Trên lộ này để bản chỉ chạy được có 60K thôi anh có biết là anh chạy đến 75K không???

-Chồng : Trời !!!... có phải không dzậy... tui rõ ràng chạy đúng 60k mà...

Cô Vợ ngồi sát bên liền đáp theo lời Chồng;

-Vợ : Đâu có anh rõ ràng lái 80K mà...

-Police : HẢ... 80K??... phạt anh vì lái xe quá nhanh

anh Chồng tức đỏ mặt nhưng ráng nhịn cô Vơ.

Đi một vòng quanh chiếc xe... lát sau ông Police mới lại bên anh Chồng nói;

-Police : Đèn trước bên phải bị bể chắc khá lâu chưa sửa???

-Chồng : Dạ... hehehe... thưa không đâu... hồi nãy mới tức thì nè... em lái xe cục đá to văng trúng bể đó...

Cô Vợ liền đáp;

-Vợ : Đâu có, đèn đó bể hùi đầu năm đến nay gần nửa năm mà nhắc hoài không chịu thay bóng mà

ông Police phạt anh thêm một tội nữa. Anh Chồng tức quá la cô Vợ.

-Chồng : Cô làm ơn im giùm tôi một vài phút có được không hả??? Khổ ghê... !!!

ông Police mới đi vòng qua bên cô Vợ và hỏi;

-Police : Bộ Ông nhà hay thường xuyên lớn tiếng với chị lắm sao?

-Vợ : Dạ đâu có... hehehe... chỉ khi nào ảnh xỉn thôi hà... chớ bình thường ảnh hiền và dễ thương lắm...

Rồi Police ghi xuống phạt anh thêm một tội lái xe trong khi xỉn.

-Chồng : TRỜI... THIỆT TÌNH... HẾT NÓI NỔI MỜ...

Friday, October 17, 2008

Tủ lạnh mini không tốn điện

Cô sinh viên 21 tuổi Emily Cummins ở West Yorkshire (Anh) đã có phát minh tuyệt vời dành cho những nước ở thế giới thứ ba. Đó là chiếc tủ lạnh nhỏ gọn và không cần điện năng nhưng vẫn hoạt động tốt.
Tủ lạnh này sử dụng năng lượng mặt trời và hoạt động theo nguyên lý bay hơi. Nó có thể bảo quản thực phẩm rất tốt ở mức 6 độ C. Nhìn bên ngoài nó giống như một cột trụ gồm 2 lớp, hình trụ bên trong bằng kim loại, còn lớp bên ngoài có thể làm bằng những chất liệu khác nhau như nhựa, gỗ...

Năm 2008, Emily Cummins đã bỏ ra 5 tháng để giới thiệu sản phẩm của mình tại châu Phi, sản phẩm độc đáo này đã đem lại cho cô biệt danh "nữ hoàng tủ lạnh" tại Namibia. Phát minh của Emily Cummins được thực hiện trong nhà kho, nơi mà ông nội cô đã có những sáng chế giúp cải thiện đời sống gia đình.

Theo Dailymail

Tủ lạnh mini không tốn điện

Cô sinh viên 21 tuổi Emily Cummins ở West Yorkshire (Anh) đã có phát minh tuyệt vời dành cho những nước ở thế giới thứ ba. Đó là chiếc tủ lạnh nhỏ gọn và không cần điện năng nhưng vẫn hoạt động tốt.
Tủ lạnh này sử dụng năng lượng mặt trời và hoạt động theo nguyên lý bay hơi. Nó có thể bảo quản thực phẩm rất tốt ở mức 6 độ C. Nhìn bên ngoài nó giống như một cột trụ gồm 2 lớp, hình trụ bên trong bằng kim loại, còn lớp bên ngoài có thể làm bằng những chất liệu khác nhau như nhựa, gỗ...

Năm 2008, Emily Cummins đã bỏ ra 5 tháng để giới thiệu sản phẩm của mình tại châu Phi, sản phẩm độc đáo này đã đem lại cho cô biệt danh "nữ hoàng tủ lạnh" tại Namibia. Phát minh của Emily Cummins được thực hiện trong nhà kho, nơi mà ông nội cô đã có những sáng chế giúp cải thiện đời sống gia đình.

Theo Dailymail

Sunday, October 12, 2008

Chắp tay nỗi nhớ …



Sóng vẫn vỗ ngàn đời tháp cổ
Mưa vẫn về thiếu bóng Diễm xưa
Trên quán trọ trăng vẫn già như cũ
Và bên đời chú dế gọi không thưa


Anh đến trần gian từ hạt bụi
Lắng tự nhân gian những ngậm ngùi
Làm chiếc lá quay hoài trong gió chướng
Lúc trở về hạt bụi hóa kim cương



Từ giữa thinh không làm cánh vạc
Kẻ độc hành xuyên suốt đêm trăng
Hàng long não ngày xưa không còn lá
Có còn chi nối tiếc nguyệt như rằm


Sóng vẫn vỗ ngàn đời tháp cổ
Mưa vẫn về thiếu bóng Diễm xưa
Trên quán trọ trăng vẫn già như cũ
Và bên đời chú dế gọi không thưa

Kẻ lãng du đi về phố cũ
Vẫy tay chào chốn trọ mù tăm
Vết trầm luân sáu mươi năm nếm đủ
Chốn trăm năm nắm đất chọn chỗ nằm

Hạt bụi lại về với hư vô
Tiếc thương chi còn lại nấm mồ
Trên vai nhật nguyệt không còn nặng
Tháng Tư về tôi chấp nguyện Nam Mô.

(Đây là bài thơ của tác giả Đỗ Duy Ngọc sáng tác nhân ngày giỗ của Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Bài thơ đã được anh Trịnh Công Hà, em trai cố nhạc sĩ đọc tại lễ giỗ ông tổ chức ở San José, Mỹ.)

Những cuộc đời tầm gửi (Phần đầu)


Đại lộ Rublebsko-Uspenskoe là nơi mà bất cứ cô gái Nga mới lớn nào cũng mơ ước được đặt chân đến đó, được sở hữu một ngôi biệt thự ở đó. Là thiên đường của những quý bà quý cô Nga mới nổi: sinh nhật tặng nhau những chiếc xe Mercedes đời mới nhất, những chiếc áo lông đắt nhất, bộ pijama giá tới mấy nghìn đô-la, những viên kim cương be bé xinh xinh nhưng có giá cao hơn cả một cửa hàng bán đồ thực phẩm của quận….Cuộc sống của các quý bà, quý cô nơi này trôi đi êm đềm trong nhung lụa. Nhưng, dường như trên đời này không có điều gì là hoàn hảo cả, ngay cả ở những nơi mà tất cả các cô gái Nga ao ước, thèm muốn như Đại lộ dành cho giới nhà giàu này. Đằng sau những vung vinh, lóng lánh bề ngoài của các quý bà quý cô là những dằn vặt, đau khổ khi chồng bắt bồ với người khác, là vụ thanh toán lạnh lùng với giá năm chục nghìn USD, là những mánh khóe nhằm ép các đại gia làm đám cưới… Hãy thử tìm hiểu cuộc sống của những người đàn bà Nga giàu có qua phần trích đăng cuốn “Tầm gửi” dưới đây.


1.

Bước ra khỏi phòng ngủ, hai tay tôi run bắn lên khi nói với chồng điều định nói. Phía sau là cả chín năm trời chung sống, đứa con gái tám tuổi, một cô gái trẻ tuổi tóc vàng đi cùng với chồng tôi ở nhà hàng tuần trước.

— Ly thân thôi, hồn ai nấy giữ, — nhìn vào mắt chồng, tôi nói, giọng tỉnh rụi.

— Ừ, thì ly thân. — Chồng tôi dửng dưng gật đầu. Tôi quay ra và về phòng đi ngủ.

Đã bao giờ bạn bị sự ghen tuông hành hạ đến khốn khổ, giống như chúng đã hành tôi chưa? Nếu là Dante, tôi e mình sẽ xếp cái hình phạt này ngay sau tội ném vạc dầu. Hoặc thậm chí là thế hẳn chỗ của nó.

Tôi không ngủ được, ăn không biết ngon. Tôi gầy rộc đi mà chẳng cần đến bất kỳ liệu pháp ăn kiêng nào. Lạ lùng thật, nhưng khi ta sụt cân không phải vì ăn kiêng, mọi người sẽ nói “cô ấy có vẻ gầy ốm bệnh hoạn”.

Trông bề ngoài thì tôi thật thảm hại, mặc dù tôi cảm thấy là mình đã tỏ ra rất siêu.

Tôi xé tất cả ảnh của anh.

Để rồi ngày hôm sau lại dán chúng vào. Tôi trải những mảnh ảnh trên sàn phòng ngủ và trút lên chúng những giọt nước mắt cay đắng. Đôi lúc, tôi cố hình dung cảnh ân ái giữa chồng mình và con bé tóc vàng kia. Nhưng không hiểu sao, tôi không thể làm được. Trí óc của tôi từ chối không thực hiện. Có lẽ nó bảo vệ cái trí khôn chập chờn của tôi. Còn tôi thì vẫn tiếp tục cố hình dung. Và nếu đột nhiên có cảnh nào xuất hiện, tôi can đảm chịu đựng nỗi đau buốt nhói do nó gây nên. Tôi hoàn toàn suy sụp cho đến khi hồi chuông điện thoại định mệnh đó vang lên.

Một giọng đàn ông lạnh lùng hỏi họ tên tôi. Để rồi sau đó, chính giọng nói đều đều đó báo cho tôi biết là chồng tôi đã chết. Năm phát đạn, hai phát vào hai bộ phận trọng yếu của cơ thể – phổi và đầu. Ngay tại sân ngôi nhà có căn hộ của chúng tôi ở Matxcơva. Cậu lái xe được đưa vào viện trong tình trạng nguy kịch. Người ta yêu cầu tôi đến cung cấp thông tin. Vài câu chia buồn. Tôi trả lời lịch sự, không kích động. Rồi gác máy. Không khí trở nên nặng nề đến mức lá phổi cũng khước từ không tiếp nhận chúng.

Cứ như thể sợi chỉ nối tôi với thế giới đã đứt phựt. Tôi ở trên một hòn đảo nhỏ xíu chông chênh, nơi người ta bỏ tôi lại hoàn toàn một mình.

Tôi chìa tay ra với mọi người. Trong tay là chiếc điện thoại. Phía đầu dây bên kia là cô bạn gái Veronica. Tôi báo rằng chồng tôi đã mất. Cô ấy không tin. Tôi nhắc lại lần nữa. Có lẽ lần này thuyết phục hơn. Veronica chỉ kêu ối và không biết nói gì nữa. Mà biết nói gì với cô bạn gái đang thông báo bằng một giọng rã rời rằng chồng cô ta đã bị bắn chết?

Tôi bỏ máy xuống. Veronica không gọi lại.

Tôi bước lại gần cửa sổ. Ô cửa thông gió đang mở.

Tôi cố thử lao ra thế giới bên ngoài mội lần nữa: tôi gào to lên. Sau vài giây, khi không khí ở hai lá phổi đã cạn kiệt, tôi bắt đầu nghe được giọng mình. Tôi ngậm miệng lại và không hiểu tại sao lại đóng ô cửa thông gió vào.

Tôi săm soi bới chọn quần áo trong tủ. Phu nhân của Sergh phải trông thật oách. Dù là ở đồn công an. Tôi diện chiếc quần lụa tơ tằm màu hồng mà chồng đã mua cho tôi.

Ra khỏi cửa, tôi ngoái đầu nhìn lại. Tôi cảm thấy nỗi sợ hãi đang dần dần xâm chiếm mình. Trước khi nổ máy, tôi khóa chặt các chốt cửa xe. Dọc đường đi, tôi không ngừng nhìn vào kính hậu. Có vẻ là không có ai theo dõi tôi cả.

Đồn cảnh sát hóa ra nom còn tệ hơn trong phim ảnh. Toàn mùi chuột. Đám cớm không còn trẻ, nhưng vui vẻ.

Tôi hỏi, chồng tôi có chết ngay lập tức không.

- Sao chị lại hỏi thế? – tay thanh tra nghi ngờ nheo mắt.

Tôi không thể trả lời. Thật là ngu ngốc nếu giải thích rằng sau khi hiểu ra rằng chồng mình đã chết, điều quan trọng là liệu cái chết đó có đủ nhẹ nhàng không. Đủ để cho trái tim đừng nát tan ra vì thương xót.

Viên đạn thứ ba xuyên qua lòng bàn tay. Tôi tưởng tượng ra cảnh anh đưa tay lên che mặt một cách bản năng và đã trì hoãn được cái chết dù chỉ trong tích tắc.

Tôi chợt hiểu ra là mình bị nghi ngờ. Người ta hỏi kỹ tôi về chuyện tiền bạc, ô tô, nhà cửa, căn hộ. Và tại sao chúng tôi không sống chung. Chuyện gì đã xảy ra trong cuộc sống vợ chồng tôi. Mối quan hệ của tôi với cậu lái xe như thế nào?

Mà tay tài xế thì có liên quan gì chứ nhỉ?

Tôi hỏi xin nước uống. Và cảm thấy sợ.

Tôi chỉ muốn bước ra ngoài phố, nhưng họ cứ hỏi mãi, hỏi mãi. Một người nào đó ngồi sau lưng tôi lọc cọc gõ mổ cò những câu trả lời của tôi trên một chiếc máy cổ lỗ sĩ. Trong đầu tôi chẳng hiểu tại sao lại cứ xuất hiện cái câu quen thuộc từ những bộ phim hình sự: “Tôi từ chối trả lời…”. Nhưng trong căn phòng cũ kỹ này, có lẽ việc thốt ra một câu như thế nghe thật là ngu ngốc.

- Chị biết đấy…- thoạt nhìn thì tay cảnh sát giống như một kẻ có trí tuệ của một học sinh trường nghề; thậm chí còn chẳng ăn đồ đút lót, một điều không thể nói về người đồng nghiệp của anh ta ngồi bên cạnh. – Chị biết đấy, hàng xóm của chị nói rằng, cậu tài xế rất quan tâm đến chị và hình như hai người có quan hệ gần gũi đấy.
Tôi im lặng. Có lẽ họ cho rằng, tôi chẳng có gì nữa để nói. Mà quả thực tôi cũng đâu có gì để nói. Còn để giải thích với họ rằng các giả thiết của họ chỉ rặt là hoang tưởng thì cần phải mang theo một tấm ảnh của Serg và kể cho họ nghe câu chuyện làm quen của chúng tôi. Cả về tình yêu của chúng tôi. Về cuộc sống của chúng tôi. Về đứa con gái tuyệt vời của chúng tôi. Như thế, may ra họ mới hiểu được. Và có thể họ còn ghen tỵ nữa. Cũng giống như tất cả đám người quen đã từng ghen tỵ với chúng tôi trước đây. Và khi đó, sự nghi ngờ về mối quan hệ giữa tôi và cậu tài xế sẽ ngu xuẩn và nực cười biết mấy.

Nhưng tôi đã im lặng.

Người ta đưa nước cho tôi.

Ba ngày sau, người ta cho phép tôi đến nhận xác chồng về.

Tôi ngồi bệt xuống sàn, hai tay bó gối và khóc.

Trời tối rồi lại sáng.

Chuông điện thoại reo, nhưng tôi không nhấc máy.

***

Quả là tiện vì nhà xác ở gần căn hộ của chúng tôi. Hít một hơi, tôi mở cửa.

- Chồng cháu đang nằm chỗ các bác, xin bác cho cháu nhìn anh ấy một lát.

Người đàn bà ngồi sau quầy thậm chí còn không thèm ngẩng lên nhìn tôi

- Không được phép.

Bà ta đưa cho tôi chiếc đồng hồ, ví và ảnh. Tấm ảnh đầu tiên của chúng tôi. Tôi cũng không biết là anh mang nó theo mình. Ở mặt sau có dòng chữ của tôi: “ Một ngày nào đó… Chúng ta sẽ không buồn nhớ bất kỳ điều gì. Chỉ còn nhớ về nhau thôi”. Tôi ký vào một quyển sổ nào đó. Và trong lòng lại bừng lên nỗi mong muốn được gào thét thật to. Sergh đã mang theo bức ảnh tôi bên mình.

Ở ngoài hành lang, tôi gặp một lão hói mặc bờ lu trắng, người sực nức mùi nước hoa. Tôi đưa tiền cho lão ta và nói:

- Xin bác làm ơn giúp cho, cháu rất cần được nhìn thấy chồng cháu.

Lão ta cầm lấy tiền và dửng dưng hất đầu về phía cánh cửa gần đó.

- Vào đi. Số 17.

Tôi đẩy cửa.

Tôi nghiêng đầu để thu hẹp phạm vi quan sát. Tôi cố gắng không nhìn ngang nhìn ngửa, mà chỉ nhìn những tấm biển số được gắn vào các gót chân trần. Lúc đầu là dọc bên trái, rồi theo hàng bên phải.

Tôi cố gắng hết sức để không ghi nhớ cảnh tượng này – những dãy thi thể trần trục xếp dọc hai bên tôi.

Chồng tôi kia rồi. Số 17.

Tôi đã từng xem trong phim cảnh người ta khóc lóc và lao vào ôm thi thể người mình yêu quý ra sao.

Tôi đứng chết lặng.

Chồng tôi – một người luôn hoàn hảo trong tất cả những gì có liên quan đến vẻ ngoài: sơ mi là phẳng phiu, giày chải bóng lộn, tóc cắt chỉnh tề – không thể nào lại nằm trong căn phòng kinh khủng này, trên cái bàn này, với tấm biển đánh số ở gót chân. Nhưng đó là thân hình anh. Gót chân của anh.

Tôi chạy ra ngoài phố, và bắt đầu nôn thốc nôn tháo ở sân sau nhà xác. Thật lâu. Cho đến khi trời sẩm tối.

Bạn bè của Sergh nhận lo tổ chức đám tang. Tôi chỉ còn mỗi việc là chọn nhà hàng để làm lễ tưởng niệm và chọn váy áo tang. Những ngày còn lại trước đám tang, tôi nằm dài trên đi văng và gặm nhấm sự cô đơn. Chẳng tiếp xúc với ai.

Có lẽ tôi sẽ chẳng thể kể cho bất kỳ ai về cảm giác của mình. Vì tôi cảm thấy nhẹ nhõm. Sự ghen tuông không còn hành hạ tôi nữa. Và tôi cảm thấy tràn ngập lòng biết ơn Sergh vì anh đã ra đi.

Tất nhiên, tôi cảm thấy thương anh vô cùng. Và sẵn sàng cho đi tất cả mọi thứ trên thế gian này, để cái chết của anh chỉ là khoảnh khắc. Và để anh không cảm thấy đớn đau và sợ hãi.

Sau đó là đám tang. Rồi lại nước mắt. Cả nước mắt của con gái chúng tôi.

Rồi váy tang và cặp kính đen. Và những hồi chuông nhất loạt rung lên trong nhà thờ Vagankovski. Rồi cảnh vĩnh biệt giữa bà quả phụ và người quá cố.

Tôi hôn anh. Và ôm anh. Và thì thầm vào tai anh. Thân thể anh tỏa ra mùi nước hoa mà tôi mang đến theo yêu cầu của ban dịch vụ lễ tang cùng với bộ com-lê và đôi giày. Mùi nước hoa quen thuộc của anh trộn với mùi đồ trang điểm trên mặt và mùi gì đó nữa, và tôi biết rằng mình sẽ chẳng thể quên được cái mùi hắc đắng của nỗi đau này.

Tôi vĩnh biệt anh.

Có ai đó về sau nói với tôi rằng tôi đã vuốt ve anh cứ như thể anh sẽ phải sống lại.

Nhưng người ta đã chôn anh.

Còn tôi thì trở về nhà.

***

Ngày hôm sau, tôi xin phép Vika và đến nhà cô ấy chơi.

Chồng Vika cũng bị giết ba năm trước. Ở Praha. Vika nhìn ra cửa sổ tầng hai ngôi nhà của họ ở ngoại ô Praha và thấy Phedor ngồi vào xe cùng với đồng nghiệp. Và đó cũng là lần cuối cùng Vika nhìn thấy chồng mình. Ba ngày sau, người ta tìm thấy xác Phedor trong xe. Một phát đạn vào gáy. Vika chôn cất chồng ở Praha rồi quay trở về Nga. Căn nhà của họ ở Praha mua theo dạng trả góp và chưa trả hết, vài tháng sau bị ngân hàng tịch biên. Vika không buồn. Tất cả mọi thứ trong căn nhà đó đều gợi cho Vika nhớ tới Phedor.

Tại Matxcơva, Vika được ông anh song sinh của Phedor ra đón. Anh ta là anh vì ra đời trước Phedor hai phút.

Anh ta coi con trai của Phedor như con đẻ của mình. Và trở thành một phần trong cuộc sống mới của Vika. Phần cơ bản – bởi ngoài anh ta và cậu con trai – Vika chẳng còn gì cả. Anh ta giúp Vika tiền bạc, tậu ô tô, thu xếp cho cậu con trai của Vika vào trường mẫu giáo xịn. Anh ta tham gia tích cực vào việc nuôi dạy đứa bé – không có bất kỳ quyết định nào có liên quan đến thằng bé mà Vika không tham khảo ý kiến của anh ta. Rồi dần dần việc này đè nặng lên Vika. Đôi khi, cô có cảm giác không phải Phedor, mà chính ông anh trai song sinh kia mới là chồng cô, mặc dù anh ta đã có vợ. Cô vợ của anh ta không thích Vika nhưng đành phải chấp nhận sự có mặt của cô. Người đàn bà này thường nói về cô với vẻ coi thường và nhẩm tính xem vợ chồng họ tốn kém những khoản nào vì phải gánh thêm mẹ con cô.

Khi được đề nghị chuyển đến căn hộ sáng sủa, rộng rãi cạnh nhà vợ chồng ông anh song sinh, Vika đã từ chối.

“Tớ chẳng có được cuộc sống riêng cho mình chút nào – Vika nói- Anh ta kiểm soát tớ từng tý một, nhất cử nhất động. Tất nhiên, không có tiền của anh ấy, tớ cũng không thể sống được, nhưng…”

Ba năm sau cái chết của Phedor, Vika quen một chàng trai hai mươi tư tuổi, đang học năm cuối trường Thương mại du lịch và làm bartender ở một hộp đêm để trang trải việc học hành. Họ bắt đầu sống chung với nhau. Anh trai của Phedor liền ngừng chu cấp tiền cho Vika. “Tôi hiểu, – anh ta nói, – giá như cô ấy tìm được một thằng đàn ông ra đàn ông, thì cứ việc sống với nhau, và có lẽ tôi còn chấp nhận kết bạn với nhau. Đằng này lại móc ra cái thằng oắt con từ một hộp đêm. Tôi nai lưng kiếm tiền không phải để cho người ta nhét vào quần xịp”

Vika xin được việc làm. Cô đưa con vào trường công lập. Lại cảm thấy máu chảy trong người như một người bình thường, được tự lo lắng cho mình.

Trong chiếc áo choàng mặc trong nhà bằng vải dệt kim có in hình chuột Miki sau lưng, Vika ra mở cửa cho tôi. Cô ấn tôi ngồi xuống chiếc ghế bành và ôm lấy tôi. Tôi làm thinh không nói năng gì. Và Vika cũng tự mồm kể tuốt tuồn tuột mọi chuyện.

Chúng tôi cùng uống trà mà chẳng cảm thấy hương vị gì. Và cứ thế trò chuyện mà chẳng để ý đến những giọt nước mắt, chỉ thỉnh thoảng máy móc lè lưỡi liếm những giọt lệ ấy trên môi.

Tôi đặt câu hỏi mà vì nó tôi đã đến đây :

- Khi nào thì điều này kết thúc?

- Chẳng bao giờ cả,- Vika nói – nhưng sau vài tháng thì sẽ đỡ hơn.

- Cậu vẫn nhớ anh ấy à?

- Tất nhiên rồi. Tớ cầm tách trà trong tay và lại nghĩ: “Đây là chiếc tách mà Phedor thích nhất”. Tớ làm món nước sốt và nghĩ là anh ấy thích nó lắm. Đôi khi tớ mua một chiếc áo, ướm thử và lại tự hỏi mình – không biết Phedor có thích không…

Tôi nhìn con chuột Miki trên lưng Vika, nhìn sơn tường loang lổ và tự thề với mình rằng mọi chuyện với tôi sẽ khác. Tôi sẽ không sống bằng quá khứ. Ý nghĩ về Sergh làm tôi đớn đau, nhưng đó là một nỗi đau dễ chịu. Có thể chịu đựng được. Nhưng tôi sẽ cấm mình có những ý nghĩ như thế. Và sau ba năm nữa, tôi sẽ chỉ nghĩ về một điều gì đó hoàn toàn khác, về điều gì đó thật đẹp và tràn ngập cuộc đời tôi và làm cho tôi hạnh phúc. Nhất định tôi sẽ lại hạnh phúc. Tôi sẽ vứt hết tách chén bát đĩa của Sergh và sẽ không làm nước sốt. Cũng có thể là không cần vứt đi, nhưng tôi sẽ thu dọn lại và xếp vào kho.

Tôi ngồi với Vika đến tận nửa đêm, sau khi làm quen với anh bạn trẻ dễ thương của cô, một thanh niên vừa đi vừa nhún nhảy và tặng cho mọi người xung quanh một nụ cười rạng rỡ với hàm răng trắng bóng.

2

Thật dễ chịu khi ngồi ở quán cà phê này.

Mặt trời thiêu đốt khuôn mặt và đôi vai trần một cách vồn vã.

Tôi trễ nải quấy đá trong cốc nước quýt và lơ đãng cười nụ với anh chàng người quen cũ có tên là Vanechka. Với mọi người thì anh ta là Joe. Vì Joe là người Anh, và anh yêu tôi đơn phương.

Vanechka yêu tôi từ mười năm trước, ngay từ cái nhìn đầu tiên và kể từ đó, tôi đã quen với tình yêu của anh chàng này, coi như điều phải có và luôn giữ để dành khi cần. Tức là vào những lúc tâm trạng buồn chán hay chẳng còn ai giúp tôi cả.

Tình cảm này rất trong sáng, nhưng trong cuộc sống gia đình của tôi, đó vẫn là một bí mật mà tôi giấu Sergh. Và là bí mật duy nhất. Tất nhiên là nếu không tính đến một số khoản chi tiêu của tôi.

Vanechka thường hay bay sang Matxcơva, và lần nào chúng tôi cũng gặp nhau chỉ ở một nhà hàng duy nhất. Vào thời nào đó, đây là một quán ăn rất mốt và kể từ đó đến nay, món ăn vẫn rất ngon và phục vụ vẫn không đến nỗi tệ. Chỉ có điều, mọi người không còn ra vào nữa. Và vừa vặn sao, đấy cũng chính là nơi lý tưởng cho các cuộc hẹn hò bí mật.

Đám nhân viên phục vụ đều quen chúng tôi.

Đôi khi tụi tôi cũng cãi nhau. Joe giận tôi và lặn mất tích. Đôi khi tới một vài năm. Để rồi sau đó lại gọi điện cho tôi chỉ để nói rằng tôi là người đặc biệt vô cùng, và anh đã rất nhớ tôi. Chúng tôi lại gặp nhau ở cái quán của mình, đám nhân viên phục vụ nhận ra chúng tôi và cho chúng tôi biết có món mới nào trong thực đơn.

Sau khi chồng mất, tôi hay gặp Vanechka hơn. Tình yêu và sự quan tâm của anh bù đắp cho sự thiếu vắng đàn ông trong cuộc sống hiện tại của tôi.

Vanechka ngồi đối diện và kể cho tôi nghe về căn hộ mới ở London .

- Anh đã cho sơn tất cả tường thành màu nâu thẫm. Trông rất mốt. Nhìn qua cửa sổ kính ở phòng khách thấy cả thành phố trong lòng bàn tay luôn.

Vanechka nói tiếng Nga với một chút phát âm lạ, rất giỏi tiếng Nga và rất thích dùng thành ngữ, tục ngữ.

- Anh biết là thể nào cũng có lúc em sẽ đến London . Và em sẽ không muốn quay lại nữa. Anh biết chắc chắn là như thế.

Còn tôi thì đang nghĩ có lẽ đến lúc phải đi phẫu thuật mắt, phải tiêm botos vào dưới mi mắt (loại độc dược đặc biệt làm cứng các cơ và cản không cho các nếp nhăn tạo hình). Mà những nếp nhăn đã bắt đầu xuất hiện quanh mắt tôi rồi.

Tôi đọc ở đâu đó rằng, nếu dùng chất độc này để giết người, nó sẽ làm xơ cứng toàn bộ hệ thống hô hấp và người đó sẽ chết do nghẹt thở trong trạng thái hoàn toàn tỉnh táo.

Dạo này tôi hay nghĩ vẩn vơ về cái chết.

Nhung chẳng coi nó như một cái gì đặc biệt cả, mà là như mỹ phẩm, thời tiết hay cô con gái của mình.

Vanechka chuyển sang chủ đề kinh doanh.

Tôi gọi thêm một ly nước quả nữa.

Ý nghĩ về những mũi tiêm độc dược kia vào dưới mắt găm chặt vào đầu tôi. Tôi lấy điện thoại, nói với Vanechka là sẽ quay trở lại ngay rồi tiến sâu vào trong nhà hàng.

Cô nhân viên chăm sóc sắc đẹp tìm được cho tôi một ô trống vào hôm nay, từ 5 giờ đến 6 giờ chiều. Phải chuẩn bị gấp thôi.

Cuộc chia tay có vẻ gượng gạo. Nhưng tôi cố gắng bù lại bằng một nụ cười rạng rỡ và đắm đuối nhất vì biết rõ rằng nhiều người trong số những ai yêu tôi đều mê đắm chính vì nụ cười đó.

***

Mũi tiêm cũng nhanh và không đau. Nhưng tác dụng chỉ bắt đầu sau hai tuần. Tiếc thật. Giá mà được trẻ và đẹp ngay tức thì.

Bù lại, tôi có thêm việc mới: chờ đợi. Bởi vì tôi chẳng còn việc gì khác cả.

Khi có chồng, thậm chí nếu chẳng đụng tay đụng chân gì cả mà suốt ngày lăn lóc trước ti vi – thì bạn không chỉ đơn giản là bò lăn xem ti vi mà là đang đợi chiều đến, khi chồng bạn đi làm về. Và như vậy không phải là bạn giết thời gian mà đã sống một ngày trọn vẹn của cuộc sống gia đình.

Tôi thì chẳng sờ đến ti vi. Tôi nghe nhạc.

Nhiều khi tôi cứ nghĩ, nếu rẽ vào bất kỳ nhà nào vào buổi tối để xem cái gì đang bật – ti vi hay máy quay đĩa, bạn có thể biết chủ nhân ngôi nhà đó là một gia đình hay một quý cô độc thân.

Tôi thầm phân lọai lũ bạn gái và nhận thấy rằng, điều này hòan toàn đúng.

Tất nhiên là có ngoại lệ. Nhưng chắc khi đó là một quý cô mong ước một cuộc sống gia đình. Hoặc ngược lại, chẳng còn mong ước cái gì nữa cả.

Tôi hiểu rằng mình đang chán đời.

Vanechka lại gọi điện.

Chúng tôi gặp lại nhau ở nhà hàng.

Vanechka ngắm tôi say đắm và nuốt từng lời của tôi.

Khi ta chẳng còn muốn nhìn mặt bất kỳ ai, người duy nhất mà ta chịu được đó là người đang yêu ta.

Chúng tôi nói đủ chuyện linh tinh.

Tôi kể chuyện mình vừa đuổi người giúp việc tiếp theo vì tội trộm cắp.

Vanechka khuyên tôi nên khiếu nại với Trung tâm giới thiệu việc làm. Anh nói rằng: “dạy con từ thuở còn thơ, dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về”

Tôi giải thích rằng, ở đất nước này, đây là việc vô ích, Trung tâm sẽ cử người khác đến thay và bà cô này cũng sẽ lại ăn cắp như những vị giúp việc trước đó thôi.

Anh kể cho tôi về thời tiết nóng khác thường hiện nay ở London .

Như mọi khi, anh lại mời tôi sang đó chơi. Và cũng như mọi lần, tôi đồng ý.

Vanechka bắt đầu chuyển sang kể chuyện cười của Nga. Đây là thủ tục bắt buộc trong mỗi lần gặp mặt mà tôi thì rất ghét. Anh chưa hiểu hết sự hài hước của người Nga và thường chọn những câu chuyện chẳng mấy hấp dẫn,, khi kể lại toàn nhấn sai đoạn gây cười. Tôi chưa cười lần nào. Với mỗi một câu chuyện cười mới, Vanechka hi vọng sẽ khiến cho tôi cười. Và cứ như thế đã vài năm.

Tôi tự nghĩ – hay thật đấy, không hiểu làm tình với một người đàn ông đã ước ao điều này cả chục năm sẽ như thế nào nhỉ?

Vanechka có một cuộc sống riêng rất sôi động. Ngay trong những lúc chúng tôi gặp nhau, điện thoại của anh réo liên tục và anh thì rất hiếm khi trả lời lúc có mặt tôi. Vanechka thật ra rất dễ thương với nụ cười quyến rũ. Anh rất hào phóng và luôn tìm ra những gì dễ chịu để nói với phụ nữ .

Mười năm trước đây, suýt nữa thì tôi đã yêu Vanechka. Nhưng tôi đã gặp Sergh và quên hết tất cả mọi thứ trên thế gian này.

Chúng tôi gọi món tráng miệng và hẹn gặp nhau vào ngày mai ở câu lạc bộ thuyền buồm.

Đưa tôi ra xe, Vanechka không quên tặng hoa cho tôi.

Tôi để bó hoa ở ghế sau và chỉ lôi ra vào ngày hôm sau khi đậu xe vào bãi xe của câu lạc bộ thuyền buồm. Tôi giấu nó vào thùng xe.

Chúng tôi gặp một đám người Pháp – khách quen của Vanechka – trong một quán cà phê nhỏ ở gần bãi đỗ. Chúng tôi gọi champagne. Đôi khi thật dễ chịu để bắt đầu một trận champagne ngay từ sáng sớm. Và như vậy khỏi cần phải tỉnh táo qua ngày. Quan trọng là đừng đi quá xa khiến cho cả ngày chỉ còn gói trong bữa sáng kéo dài.

Chúng tôi mượn thuyền, lướt ván và nướng thịt.

Thật là một cảm giác đặc biệt – sánh vai cùngVanechka trước bàn dân thiên hạ. Mà chẳng sợ có ai đó bắt gặp chúng tôi.

Trong nhóm bạn bè của mình, Vanechka thú vị vô cùng, thậm chí tôi đã nhìn anh bằng cặp mắt khác, không còn như vật sở hữu của riêng mình.

Một ngày trôi qua rất tuyệt, chúng tôi chia tay và hài lòng về nhau.

3
Tôi lại bị gọi lên thẩm vấn.

Tôi gọi cho tay hàng xóm ở nhà nghỉ ngoại ô – một luật sư - và nhờ anh ta đi cùng. Sau chuyến yết kiến tại đồn cảnh sát lần trước, tôi hiểu ra rằng đó hoàn toàn không phải là nơi ta cảm thấy an toàn.

Lần này thì người ta không còn nghi tôi đã giết chồng nữa.

Họ cho tôi xem ảnh tạo từ máy tính để nhận dạng.

- Chị hãy xem kỹ đi, – các thanh tra viên yêu cầu đồng thời đưa cho tôi tấm ảnh vẽ một người trong số người quen của chồng tôi, – Chị có nhận ra người này không?

- Không – tôi lắc đầu và không hiểu tại sao mình lại làm thế.

- Chị xem kỹ lại đi. Có thể chị đã gặp anh ta ở đâu đó chăng?

Ở một nhà hàng. Hắn đã cầm chiếc túi xách của tôi và nức nở khen đống phụ kiện của phụ nữ đôi khi thật tinh tế làm sao. Bởi vậy mà tôi nhớ hắn: không phải ngày nào ta cũng gặp được người đàn ông bị những chiếc túi xách phụ nữ hút hồn.

Tôi chia tay với anh hàng xóm luật sư và cảm ơn anh ta đã đi cùng. Anh ta ôm nhẹ vai tôi. Hay thật, chắc đó là cử chỉ nghề nghiệp chăng?

Tôi nhích từng tí một trên những đọan đường luôn trong tình trạng ùn tắc ở Matxcơva và nghĩ rằng, có lẽ phải thuê lái xe. Thể nào cũng phải tìm ra thằng Phetisist và giết chết nó. Để trả thù cho chồng. Đó mới là điều đúng. Tại sao tôi lại không trả lời cảnh sát là có biết hắn? Nhưng tôi chẳng muốn nghĩ về điều này nữa.

Tôi quay chiếc gương hậu về phía mình. Ngắm nhìn những vết nhăn quanh mắt để chờ đợi tác dụng của botos đã trở thành thói quen của tôi.

Hay là mua một khẩu súng lục? Không, có lẽ đơn giản hơn là thuê ai đó? Hay là mua nhỉ?

Tiện thể giết luôn con bé tóc vàng ở nhà hàng đó nữa. Và cả lão cảnh sát đã hỏi: “tại sao chị lại hỏi thế?”

Tôi rất muốn thành một người mạnh mẽ để không chỉ thậm chí làm điều này mà trong tình trạng sẵn sàng thực hiện nó.

Tôi dừng xe ở gần nhà thờ. Một quy trình đã thành thói quen trong tháng cuối này – thắp một ngọn nến cho người quá cố, ngọn khác – cho người sống.

Tôi đã nghĩ ra có thể gọi điện cho ai.

Hai mươi năm trước đây, khi mọi chuyện ở Matxcơva mới bắt đầu, tất cả chúng tôi đều có nhiều người quen như thế. Nói đúng hơn, tất cả người quen của chúng tôi đều như thế. Rồi tất cả bọn họ trở thành doanh nhân, đại biểu quốc hội, thậm chí là nghệ sĩ. Chỉ mỗi Olegjek là vẫn như trước, không có gì mới.

Vài năm tôi mới gọi cho anh ta một lần. Và không để lại số điện thoại của mình bao giờ. Đôi lúc giúp anh tiền. Lần cuối cùng tôi gọi cho anh ta là khi mụ giúp việc lấy cắp tất cả áo lông và áo bành tô cổ lông. Mụ tính rất đơn giản: thời tiết đang là mùa hè và chắc rằng đến mùa đông tôi mới sờ đến chúng. Đến đông thì mụ đã không còn làm cho tôi ít nhất nửa năm rồi. Tôi tiếc những chiếc áo lông quá. Còn Sergh thì cho rằng tôi đã gửi đi giặt khô và quên mất là gửi tiệm nào. Vì thế tôi phải cậy đến Olegjek. Thế nhưng, anh ta nghĩ ra một cái cớ xuôi tai nào đó và không nhận làm vụ này.

Sergh mua cho tôi liền một lúc hai cái áo lông mới, và dần dần chuyện cũ cũng được quên đi.

Olegjek gặp tôi ở nhà hàng, cười rạng rỡ. Tôi đồ rằng, chắc anh ta chỉ được bước vào những nhà hàng tầm cỡ này khi đi cùng tôi. Khi ở trong xe, tôi đã tháo hết đồ trang sức của mình. Loại người này khó mà tin tưởng tuyệt đối được.

- Sao thế, ô sin lại cuỗm của bà vài hạt xoàn sao? – Olegjek ngồi ngửa trong ghế bành, còn tay bồi bàn thì đang châm lửa thuốc lá cho Olegjek

Tôi lịch sự cười với cái cau mày nhã nhặn đợi đến khi gã bồi bàn để chúng tôi ngồi lại một mình.

Tôi kể cho Olegjek tất cả những gì tôi biết về cái chết của Sergh và cái gã chó chết kia .

Tôi không tin lắm vào sự thành công của dự định. Bởi đến cả hình của hắn tôi cũng chẳng có. Chỉ có mỗi cái tên cùng một vài nhóm người quen của hắn ta.

Tôi ra giá mười nghìn đô la.

Olegjek đòi năm mươi ngàn.

Tôi cảm thấy rằng, mặc cả trong những trường hợp như thế là có lỗi với vong hồn của Sergh. Cũng giống như tôi chẳng bao giờ hỏi giá mỗi khi mua hoa đến đặt ở nghĩa trang cho Sergh.

Olegjek đòi ứng trước một nửa.

Tôi nhớ lại khu nhà xác. Và cả sự bất lực của mình lúc đó. Thật là kinh khủng với cảm giác không thể làm được gì hết nữa. Còn bây giờ thì tôi có thể làm được một điều gì đó cho Sergh.

Tôi hứa sẽ mang tiền đến vào ngày mai. Mang đến tận nhà Olegjek.

Và tôi đã làm như vậy. Tôi tới cầu thang nhà Olegjek và gọi hắn xuống.

Tôi không khoái những khu nhà cũ kỹ.

Có lẽ là ngày nghỉ. Người người đi lại, không để ý đến tôi.

Có một đôi trai gái ngồi trên ghế xích đu dành cho trẻ con ở sân – cô gái dễ thương mặc quần bò màu xanh và chàng trai tóc phủ dài. Họ ôm nhau và tán đủ chuyện, chỉ dừng lại mỗi khi hôn nhau.

Anh chàng đắm đuối nhìn cô gái. Còn cô gái đỏng đảnh cười và trêu chọc chàng trai.

Mọi người nhìn đôi tình nhân và ghen tỵ với tuổi trẻ của họ.

Còn họ thì sẽ nghĩ rằng nó sẽ là mãi mãi.

Bỗng nhiên tôi ước mình trở thành cô gái kia và hôn bạn trai trên xích đu.

Nhưng đó chỉ là điều ước.

Nếu là cô gái trên chiếc xích đu kia, đời tôi sẽ không có Sergh và Masha. Và có lẽ cả cuộc sống của tôi cũng không có nữa. Cũng không còn cần đưa tiền cho Olegjek để giết chết Phetisist. Và nếu như không đến đây để đưa tiền cho Olegjek, tôi cũng sẽ không nhìn thấy cô gái kia để mà ước mình hóa thành cô ấy.

Ánh mắt tôi và cô gái chạm nhau. Mắt cô bé tối sầm đi. Cô bé lại ước mong được mặc quần áo của tôi, ngồi trên xe tôi và đi đến nhà tôi. Và nhìn ra ngoài qua kính xe ô tô của tôi.

Còn tôi thì chỉ muốn đưa họ đi đâu đó. Giả vờ làm tài xế và nghe những chuyện linh tinh nhăng cuội của họ.

Olegjek đi ra. Tôi đưa tiền và nhấn ga.

Qua gương hậu là hình ảnh cô gái. Cô ta đang cáu kỉnh nói gì đó với chàng trai. Cũng có thể anh chàng này đã ngó tôi chăng? Tôi cười với cái bóng của mình. Đáp lại tôi là nụ cười chế nhạo của botos.

Buổi chiều, tôi lại gặp Vaneshka. Hôm nay là ngày cuối cùng anh còn ở Matxcơva. Ngày mai anh bay về nước.

Như mọi khi, anh luôn đặc biệt dịu dàng vào ngày cuối cùng.

Tôi cảm thấy mình là nữ hoàng đang ban phát ơn huệ. Tôi nở nụ cười tặng anh và thậm chí còn nũng nịu.

Chúng tôi gặp nhau ở một trang trại Nga cổ ở Sharisuno. Vaneshka thích cưỡi ngựa. Còn tôi thì sợ ngựa. Nhưng tôi thì thích ngồi ngoài thiên nhiên, dưới ánh mặt trời với tách cà phê trong tay và ngắm nhìn những cử động duyên dáng của chúng. Vaneshka chọn con ngựa có tên là Ruồi. Anh gọi nó là Moskit. Con ngựa không phục và đá hậu lung tung. Vaneshka ngồi trên ngựa rất đẹp. Có những người làm gì cũng ổn cả. Cuối cùng thì Ruồi cũng hiểu ra rằng phản kháng lại tay đang cưỡi mình là vô ích và vì vậy ngoan ngoãn nghe theo ý của anh.

Dưới chân tôi là một chú mèo vàng cuộn tròn. Không hiểu tại sao bất kỳ trại ngựa nào cũng đầy mèo, chó hay một loại động vật khác nào đó.

Cạnh tôi là một cô gái trẻ – nhân viên của trại ngựa. Cô đang dùng bàn chải cứng chải bờm một chú ngựa trắng tuyệt đẹp.

Tôi thầm nghĩ, giá mình là cô bé này thì thật là thích. Hàng ngày đi đến đây, mở cửa chuồng, chào các bạn ngựa như với những người bạn thân, chiêu đãi chúng món đường, cuối tháng nhận lương và đi về nhà bằng tàu điện ngầm. Trên đường đi, nhân dịp kỳ lĩnh lương, cô nàng sẽ mua một cái cà vạt hay áo sơ mi tặng bạn trai mình. Rồi làm món gà rán cho bữa tối. Xong nằm xem phim trên Kênh 1. Kênh 1, vì tôi có người quen là Giám đốc thương mại của kênh này và đối với anh ta, điều quan trọng là sao cho khán giả phải xem phim trên chính kênh truyền hình của hắn.

Vaneshka quay lại sau khoảng hai mươi phút, mắt cháy sáng và phấn khích.

Tự nhiên tôi muốn hôn anh. Nhưng anh ướt đẫm mồ hôi và đi vào buồng tắm. Tôi rẽ vào ngăn tắm của anh sau năm phút. Tin chắc rằng đó là điều anh chẳng bao giờ chờ đợi. Tất cả diễn ra không như tôi đã tự tưởng tượng. Chẳng có ai chết ngất vì hạnh phúc. Các phòng bên cạnh đầy đám đàn ông đang tắm. Tôi không hiểu có ai để ý khi tôi bước ra và vội vàng lau khô người? Tôi ngồi vào xe và đi về nhà.

Ngày hôm sau, Vaneshka bay về nước. Tôi lại thấy nhẹ cả người. Tôi chẳng hình dung ra mình sẽ cư xử như thế nào nếu chúng tôi gặp lại nhau ngay.

Hy vọng là qua thời gian khi anh ở London , chuyện ở phòng tắm hôm qua sẽ được quên đi và sau này tôi sẽ tỏ vẻ là chẳng có chuyện gì xảy ra cả.

Tôi ăn sáng trên giường. Đến ba giờ chiều thì chợt hiểu ra là Vaneshka không gọi điện. Kể từ lúc tiễn tôi ra xe ngày hôm qua, anh không gọi một lần nào.

Tôi kiểm tra xem điện thoại có làm việc không. Và tự mình quay số của Vaneshka. Vanechka nhấc máy sau hồi chuông thứ sáu.

Tôi dập máy.

Không có chuyện gì xảy ra với anh âý cả – vẫn sống, khỏe mạnh, chỉ đơn giản là không gọi cho tôi.

Tại sao tôi lại gọi điện thoại nhỉ? Chắc anh sẽ đoán ra là tôi gọi. Hy vọng là không đoán ra. Chắc có lẽ có một đống các cô các bà cũng gọi điện cho anh rồi dập máy như tôi.

Có nghĩa là tôi đã biến thành một trong số đống các bà các cô đó.

Tôi nghiến chặt môi để không bùng lên vì tức giận.

Tôi chui đầu vào chăn để không bao giờ bò ra nữa.


TẦM GỬI

Tác giả: Oksana Robski

Dịch giả: Vũ Việt Nga

NXB Văn Nghệ, 2008

Số trang: 346, Giá 49.000 VND

Cuốn sách được xuất bản theo hợp đồng chuyển nhượng bản quyền giữa Công ty cổ phần Tinh Văn và Andrew Nurnberg Assosiates Limited, London (UK)



(Còn nữa)